CHĂM SÓC SAU MỔ ĐƯỜNG TIÊU HÓA

17/08/2021
Bất kỳ người bệnh hậu phẫu nào cũng cần theo dõi dấu chứng sinh tồn, mạch và huyết áp, khó thở, thở chậm. Nếu người bệnh gây mê cần theo dõi sát tri giác người bệnh tỉnh, lơ mơ hay kích động.
CHĂM SÓC SAU MỔ ĐƯỜNG TIÊU HÓA
  • 1. NHẬN ĐỊNH TÌNH TRẠNG NGƯỜI BỆNH TẠI PHÒNG HỒI SỨC

    Bất kỳ người bệnh hậu phẫu nào cũng cần theo dõi dấu chứng sinh tồn, mạch và huyết áp, khó thở, thở chậm. Nếu người bệnh gây mê cần theo dõi sát tri giác người bệnh tỉnh, lơ mơ hay kích động. Thường sau phẫu thuật tiêu hoá người bệnh rất dễ bị mất nước và điện giải do trong quá trình phẫu thuật, do dẫn lưu, do ống Levine và người bệnh nhịn ăn uống hoàn toàn trước và sau mổ, do tình trạng bệnh lý. Vì thế điều dưỡng cần nhận định chính xác dấu hiệu mất nước và rối loạn điện giải, ghi chú nước xuất nhập và điện giải cho người bệnh, cần nhất là K+ vì có thể ảnh hưởng đến nhu động ruột sau mổ. Sau phẫu thuật tiêu hoá thường có dẫn lưu, vì thế điều dưỡng cần biết loại dẫn lưu, vị trí dẫn lưu, số lượng dịch, màu sắc, tính chất và dấu hiệu bất thường.

    Về vết mổ, rất nhiều vị trí vết mổ trên thành bụng, điều dưỡng cần biết vị trí, tình trạng vết mổ hở, căng, chỉ thép, khâu hở, khâu thưa… Chỉ có phẫu thuật tiêu hoá mới có hậu môn nhân tạo, điều dưỡng cần nhận định màu sắc niêm mạc, hậu môn nhân tạo xẻ hay chưa xẻ, tình trạng xung quanh da ở chân hậu môn nhân tạo, vị trí đưa ra hậu môn nhân tạo vì nếu bên phải thì người bệnh rất dễ mất nước và điện giải. Tình trạng bụng trướng, đau, nôn ói, khám bụng gồng cứng, có phản ứng phúc mạc không, nghe nhu động ruột. Hầu như các phẫu thuật tiêu hoá đều đặt ống Levine vì nó rất quan trọng trong và sau phẫu thuật; điều dưỡng nhận định màu sắc, số lượng, áp lực hút, nghe nhu động ruột.

    2. CHĂM SÓC NGƯỜI BỆNH

    2.1. Bụng

    Với người bệnh phẫu thuật tiêu hoá, việc thăm khám bụng thường xuyên là rất quan trọng, giúp theo dõi tiến triển của tình trạng bệnh sau mổ. Điều dưỡng theo dõi đau bụng, căng chướng bụng không. Khám bụng tìm phản ứng dội, bụng cứng, điểm đau, nghe nhu động ruột. Điều dưỡng khuyến khích người bệnh xoay trở, hít thở sâu, theo dõi cơn đau bụng, hút qua ống Levine, theo dõi chướng bụng, theo dõi số lượng dịch hút.

    2.2. Nấc

    Nấc là do cơ hoành co thắt. Thường xảy ra ở những người bệnh phẫu thuật phía trên ống tiêu hoá như phẫu thuật dạ dày, tuỵ, mật… Nấc làm người bệnh rất khó chịu và mệt, vì thế điều dưỡng cần cho người bệnh ngồi dậy, hút dịch  dạ dày qua ống Levine, cho uống nước ấm nếu được, hít thở sâu,… sau cùng nếu không đạt kết quả, điều dưỡng thực hiện thuốc chống nấc cho người bệnh.

    2.3. Nôn

    Nấc thường do tác dụng phụ thuốc gây mê, tính chất giải phẫu, tình trạng  bệnh lý, thường do tắc ống Levine, do tư thế. Nôn sẽ làm người bệnh mất nước, rối loạn điện giải, mệt. Điều dưỡng cần theo dõi số lượng, số lần, tính chất, màu sắc chất nôn. Thực hiện đặt ống thông dạ dày và hút liên tục. Nên cho người bệnh nằm nghiêng tránh hít chất nôn vào phổi.

    2.4. Tràn hơi phúc mạc sau mổ

    Cho người bệnh xoay trở, ngồi dậy hay nằm tư thế Fowler giúp thoát hơi nhanh. Theo dõi hô hấp do chướng bụng có thể làm người bệnh khó thở.

    2.5. Vết mổ

    Điều dưỡng cần nhận định: vết mổ may kín, may thưa, chỉ thép, để hở, có dẫn lưu hay hậu môn nhân tạo. Điều dưỡng lượng giá tình trạng vết mổ đau, thấm dịch, chảy máu, dấu hiệu nhiễm trùng.

    Chăm sóc: Không thay băng nếu vết mổ khô sạch, không thấm dịch, nhưng theo dõi dấu hiệu nhiễm trùng, sốt. Chỉ thay băng vết mổ khi thấm dịch, vết mổ may bằng chỉ thép, vết mổ hở. Trong trường hợp vết mổ chảy máu, điều dưỡng thực hiện băng ép điểm chảy máu. Nếu chảy trên nhiều điểm báo bác sĩ và chuẩn bị phụ giúp bác sĩ khâu cầm máu. Vết mổ nhiễm trùng, điều dưỡng xin ý kiến bác sĩ cắt ngay mối chỉ có mủ, nặn mủ, rửa sạch vết mổ, ghi chú màu sắc, số lượng mủ vào hồ sơ. Theo dõi đau vết mổ, đánh giá theo thang điểm đau. Để giảm đau vết mổ, điều dưỡng nên cho người bệnh ngồi dậy, dùng gối đặt ngay vết mổ khi ngồi dậy, xoay trở.

    2.6. Dẫn lưu

    Theo dõi số lượng, màu sắc, tính chất dịch. Phải biết dẫn lưu đặt ở đâu, mục đích phòng ngừa hay điều trị. Chăm sóc, thay băng khi thấm dịch, cho người bệnh nằm nghiêng về phía dẫn lưu, hướng dẫn người bệnh cách giữ  ống dẫn lưu khi vận động. Nếu là dẫn lưu mật, tuỵ thì theo dõi dấu hiệu mất nước và điện giải. Thực hiện bù nước và điện giải cho người bệnh. Chăm sóc da vùng chân ống dẫn lưu, phòng ngừa rôm lở da tích cực. Cần câu nối hệ thống dẫn lưu thấp hơn vị trí dẫn lưu, hệ thống thông và 1 chiều.

    2.7. Chức năng ruột

    Điều dưỡng nhận định nhu động ruột, táo bón, tiêu chảy, rối loạn lưu thông ruột. Người bệnh sau mổ tiêu hoá thì bụng thường hay bị chướng hơi, phục hồi nhu động ruột chậm, táo bón hay tiêu chảy, chán ăn, rối loạn hấp thu. Điều dưỡng nên theo dõi tình trạng bụng, cơn đau, nghe nhu động ruột, đánh giá người bệnh có trung tiện chưa. Chăm sóc cho người bệnh vận động, ngồi dậy sớm, hít thở sâu, cho thuốc theo y lệnh. Nếu người bệnh tiêu chảy có thể do dùng kháng sinh, điều dưỡng cần thực hiện thuốc hay cho ăn sữa chua.

    2.8. Tuần hoàn

    Choáng và suy giảm tuần hoàn liên quan đến thiếu máu, nước và điện giải. Nguyên nhân do nôn ói, do không ăn uống trước mổ, do rối loạn nước và điện giải trước mổ, do rò tiêu hoá sau mổ, dẫn lưu, do hậu môn nhân tạo. Chăm sóc, theo dõi dấu mất nước trên lâm sàng, thực hiện bù nước, nhưng chú ý ở người già nguy cơ thừa và thiếu nước có khoảng cách rất hẹp.

    2.9. Dấu hiệu tắc mạch chi

    Thường xảy ra ở những người bệnh nằm lâu, người già, béo phì. Chú ý vấn đề người bệnh nằm lâu không vận động. Tránh tiêm truyền ở chi dưới cho người bệnh, nhất là người bệnh béo phì, suy kiệt.

    2.10. Nước và điện giải

    Nguyên nhân do tắc ruột, liệt ruột, rò, ói, tiêu chảy, dẫn lưu ổ bụng, hậu môn nhân tạo, ống thông dạ dày. Điều dưỡng theo dõi nước xuất nhập và dấu hiệu thiếu điện giải, thực hiện bù nước và điện giải theo y lệnh.

    2.11. Tâm thần

    Đánh giá ảnh hưởng của thuốc mê, cân bằng nước và điện giải, mất ngủ, mệt, lượng giá cảm xúc người bệnh khi người bệnh có hậu môn nhân tạo.

    2.12. Hô hấp

    Sau mổ tiêu hoá, người bệnh thở nông và không dám ho vì đau bụng, thiếu oxy sau gây mê, bụng chướng làm tổn thương sự giãn nở của phổi. Điều dưỡng cho người bệnh nằm đầu cao, ngồi dậy thường xuyên, tập bụng, thực hiện thuốc giảm đau.

    2.13. Nhiệt độ

    Sau mổ bình thường nhiệt độ có thể tăng nhẹ. Nếu nhiệt độ  > 380C nên theo dõi dấu hiệu nhiễm trùng tiểu, vết mổ, viêm phúc mạc, áp–xe tồn lưu. Sau mổ điều dưỡng theo dõi nhiệt độ, thực hiện kháng sinh chống nhiễm trùng.

    2.14. Tiết niệu

    Theo dõi nước tiểu, màu sắc, tính chất, phát hiện tình trạng bất thường, BUN, creatinine, dấu hiệu nhiễm trùng tiểu. Việc đánh giá số lượng nước tiểu giúp điều dưỡng phát hiện sớm tình trạng suy thận sau mổ. Một trong những nguy cơ cao sau mổ là nhiễm trùng tiểu. Điều dưỡng cũng cần rút thông tiểu sớm nhằm giảm tình trạng nhiễm trùng tiểu; tuy nhiên người bệnh cũng có nguy cơ bí tiểu sau phẫu thuật đại tràng như phẫu thuật Miles, phẫu thuật Hartmann. Vì thế, phẫu thuật viên thường lưu thông tiểu 5–6 ngày sau mổ. Điều dưỡng cần chăm sóc bộ phận sinh dục, câu nối vô trùng, bảo đảm hệ thống thông và sạch. Mục đích dẫn lưu nước tiểu qua ống thông là giúp người bệnh tránh nhiễm trùng vết thương vùng tầng sinh môn, bí tiểu sau mổ. Điều dưỡng có thể hướng dẫn người bệnh cách tập bàng quang bằng cách cột ống thông tiểu lại và chỉ tháo nước tiểu mỗi 3 giờ. Mục đích người bệnh sẽ không bí tiểu sau khi rút thông tiểu.

    2.15. Hậu môn nhân tạo

    Điều dưỡng nhận định tình trạng hậu môn nhân tạo, tình trạng da xung quanh hậu môn nhân tạo, màu sắc phân. Điều dưỡng chăm sóc hậu môn nhân tạo và hướng dẫn cho người bệnh hay người nhà cách chăm sóc. Hướng dẫn và cung cấp thông tin cần thiết giúp người bệnh tự tin trong cuộc sống.

    3. CHẨN ĐOÁN VÀ CAN THIỆP ĐIỀU DƯỠNG

    3.1. Nguy cơ nhiễm trùng, chảy máu sau mổ

    Theo dõi nhiễm trùng tiểu, viêm phổi, nhiễm trùng vết mổ, dẫn lưu về màu sắc, số lượng, tính chất dịch. Theo dõi dấu hiệu chảy máu sau mổ, theo dõi dấu chứng sinh tồn mỗi 2 giờ cho đến khi ổn định và sau đó mỗi 4giờ/lần.

    3.2. Thay đổi chức năng tiết niệu, tim, phổi, tiêu hoá, tưới máu ngoại biên

    Lượng giá các dấu hiệu và triệu chứng của người bệnh qua sự thay đổi tưới máu mô sau mổ bụng vì biến chứng như viêm tuỵ cấp, viêm túi mật cấp, loét đại tràng hay những bệnh khác, bao gồm choáng, suy tuần hoàn, suy thận. Monitor theo dõi dấu chứng sinh tồn, áp lực tĩnh mạch trung tâm (CVP), theo dõi sát nước xuất nhập. Khuyến khích người bệnh tập thở, tập chân, dùng vớ bó giúp máu tĩnh mạch trở về tốt.

    3.3. Thở nông với nhịp thở, tiếng thở giảm

    Nghe phổi mỗi 2 giờ, quan sát kiểu thở. Khuyến khích người bệnh xoay trở, ngồi dậy, ho, hít thở sâu mỗi 2 giờ giúp phổi giãn nở tốt. Cung cấp thuốc giảm đau và dùng gối nẹp bụng người bệnh giúp người bệnh giảm đau khi cử động hay khi ho, thực hiện thuốc giảm đau.

    3.4. Thiếu nước và điện giải

    Theo dõi nước xuất nhập, dấu hiệu mất nước và rối loạn điện giải trên lâm sàng và xét nghiệm ion đồ. Cung cấp dịch và các chất điện giải theo y lệnh, cân người bệnh mỗi ngày. Thực hiện truyền dịch đúng số lượng, số giọt theo y lệnh, điều dưỡng nên giữ đường truyền liên tục trong ngày. Đánh giá và theo dõi lượng nước tiểu chính xác.

    3.5. Hút dạ dày

    Bất lợi: mất thăng bằng sinh học, giảm sự thông khí của người bệnh, khó chịu, khô môi miệng.

    Ưu điểm: hút không khí nuốt vào giảm nguy cơ tắc ruột sau mổ. Ruột giảm căng chướng để đường khâu nối ở ruột được bảo vệ.

    Chăm sóc răng miệng, giữ ẩm niêm mạc miệng, hướng dẫn cách thở, theo dõi số lượng dịch tránh nguy cơ thiếu dịch. Theo dõi dấu hiệu mất nước, tình trạng chảy máu sau mổ, tác dụng áp lực hút, màu sắc, tính chất số lượng dịch, nhu động ruột.

    3.6. Đau sau mổ bụng

    Có 4 kiểu đau: nông, nội tạng, tính chất phản chiếu, đau lan.

    Điều dưỡng theo dõi thời gian đau, khoảng cách cơn đau, vị trí, kiểu đau và thời gian đau xuất hiện, hiệu quả thuốc điều trị, tư thế và phương pháp giảm đau. Điều dưỡng thực hiện các phương pháp giảm đau cần thiết như đánh giá tâm lý, người bệnh đứng dậy, đi lại, tập thở, có thể cho thuốc giảm đau nhưng tránh nguy cơ nghiện thuốc. Đau có thể do căng chướng bụng, bụng cứng. Khi người bệnh sốt thì nên theo dõi biến chứng viêm phúc mạc.

    3.7. Mất sự toàn vẹn ở da

    Xoay trở mỗi 2 giờ/lần tránh nguy cơ loét do tư thế.

    Thay băng vết mổ, dẫn lưu nếu thấm dịch. Cung cấp túi đựng phân hay chất bảo vệ da khi người bệnh có lỗ dò hay hậu môn nhân tạo. Chăm sóc da sạch tránh nguy cơ loét da xung quanh chân dẫn lưu.

    3.8. Vệ sinh răng miệng

    Chăm sóc răng miệng thường xuyên để ngăn ngừa các vấn đề liên quan do ống Levine, hạn chế ăn uống, thở bằng miệng. Đánh răng mỗi 4 giờ giúp người bệnh dễ chịu. Dùng kẹo ngậm sát trùng (nếu được) kích thích tiết nước bọt và dịch dạ dày. Chăm sóc răng miệng tránh nguy cơ tổn thương do đặt ống Levine.

    3.9. Táo bón – tiêu chảy

    Đánh giá người bệnh có nhu động ruột ngay sau mổ. Đánh giá thức ăn và dịch đưa vào liên quan đến mùi phân. Quan sát màu sắc, tính chất, số lượng, mùi của phân. Theo dõi dấu mất nước nếu người bệnh tiêu chảy. Giáo dục người bệnh cách ăn uống sau mổ. Nếu người bệnh có hậu môn nhân tạo thì điều dưỡng cần hướng dẫn cẩn thận về chế độ ăn uống.

    3.10. Vệ sinh cá nhân giảm

    Đánh giá hoạt động thường ngày của người bệnh sau mổ. Cho người bệnh tắm những phần không ảnh hưởng đến vùng có tổn thương da trên cơ thể. Cách đặt túi hậu môn trong trường hợp dò tiêu hoá, sau rút dẫn lưu Kehr, dẫn lưu ổ tuỵ, hậu môn nhân tạo giúp người bệnh sạch sẽ, đo được lượng dịch, ngừa lở da.

    3.11. Dinh dưỡng

    Lượng giá khả năng rối loạn hấp thu dinh dưỡng như tiêu máu, tiêu chảy, giảm cân, chậm tiêu. Cung cấp thức ăn đầy đủ chất dinh dưỡng phù hợp với bệnh lý, thức ăn đưa vào cơ thể nếu chưa trung tiện hoặc do bệnh lý người bệnh không được ăn. Thực hiện nuôi dưỡng bằng dịch truyền an toàn.

    Nếu đã có trung tiện, nuôi ăn qua miệng, qua lỗ mở dạ dày ra da, lỗ mở hỗng tràng ra da. Đôi khi người bệnh đã có nhu động ruột nhưng không ăn được và vẫn nuôi dưỡng qua các đường khác. Mục tiêu chung là cung cấp đầy đủ chất dinh dưỡng cho người bệnh.

    3.12. Bài tiết nước tiểu

    Bí tiểu: thường hay xảy ra ở người bệnh mổ bụng nhất là sau giải phẫu vùng trực tràng, thường thông tiểu sẽ lưu lại với người bệnh mổ phẫu thuật Miles. Đánh giá bí tiểu do thuốc mê, đau, lo lắng. Giúp người bệnh tiện nghi và kín đáo khi đi tiểu. Nên sờ xem bàng quang người bệnh có căng chướng không? Nếu người bệnh không đi tiểu từ 6–8 giờ, hay tiểu với số lượng ít, đặt thông tiểu theo y lệnh.

    3.13. Theo dõi những người bệnh có nguy cơ biến chứng cao

    – Người già do thiếu dinh dưỡng vì khó ăn, thiếu răng, tiêu hoá chậm lại, rối loạn chuyển hoá, dễ chảy máu, thiếu máu, nhiễm trùng, tắc mạch, xơ cứng mạch máu, viêm phổi.

    – Nghiện rượu: lú lẫn mê sảng, hôn mê,…

    – Tiểu đường: mê do tăng đường huyết hay giảm đường huyết, vết mổ lâu lành.

    – Béo phì: viêm phổi, nghẽn tĩnh mạch, nhiễm trùng, thiếu máu.

    4. GIÁO DỤC NGƯỜI BỆNH

    Hướng dẫn người bệnh mổ tiêu hoá những chăm sóc thường quy, thường xuyên đi lại, nghỉ ngơi, từ từ gia tăng hoạt động, giữ sạch vết thương, báo cáo dấu hiệu sưng, nóng, đỏ đau của vết mổ nhiễm trùng, tránh làm việc nặng trong 6–8 tuần, nên dùng tay giữ thành bụng khi ho hay hắt hơi. Cung cấp những thông tin chẩn đoán xác định, phương pháp mổ, và diễn tiến bệnh khi xuất viện. Cung cấp bằng bài viết về cách chăm sóc tại nhà vết thương, dẫn lưu, hậu môn nhân tạo, cho người bệnh những bài tập quan trọng. Hướng dẫn bằng tờ rơi và chương trình điều trị thuốc tiếp theo. Không làm việc nặng để tránh biến chứng thoát vị thành bụng. Cung cấp các triệu chứng tắc ruột, thoát vị thành bụng, nhiễm trùng vết mổ,… để người bệnh đến tái khám ngay.

    Phòng khám BS Hoài Nam tổng hợp (Nguồn: hauphau.com)

Tin tức khác?

CÂU CHUYỆN SỨC KHỎE: VĂN HÓA KHÁM BỆNH

CÂU CHUYỆN SỨC KHỎE: VĂN HÓA KHÁM BỆNH

Bác sĩ cũng là con người, cũng có lúc mệt mỏi. Hiểu được vậy, người bệnh và gia...

CÂU CHUYỆN SỨC KHỎE: BỆNH BƯỚU CỔ

CÂU CHUYỆN SỨC KHỎE: BỆNH BƯỚU CỔ

Bướu cổ là tên gọi phổ biến để chỉ bướu xuất phát từ tuyến giáp, trong y học gọi...

DINH DƯỠNG CHO NGƯỜI BỆNH

DINH DƯỠNG CHO NGƯỜI BỆNH

Đã từ lâu và rất nhiều người (kể cả nhân viên y tế) sai lầm khi nghĩ rằng trong...

TRÒ CHUYỆN CÙNG CHUYÊN GIA: BỆNH TIM MẠCH VÀ CAO HUYẾT ÁP

TRÒ CHUYỆN CÙNG CHUYÊN GIA: BỆNH TIM MẠCH VÀ CAO HUYẾT ÁP

PGS. TS. BS Nguyễn Hoài Nam - Tổng thư ký Hội phẫu thuật Lồng ngực và Tim mạch;...

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây