UNG THƯ GAN: CÁC TIẾN BỘ TRONG ĐIỀU TRỊ

17/08/2021
BS Nguyễn Quang Thái Dương: Bệnh viện ĐH Y Dược TP HCM.PGS TS Nguyễn Hoài Nam: Giảng viên ĐH Y Dược TP HCM; Cố vấn y khoa Bệnh viện Quốc Tế Minh Anh.
UNG THƯ GAN: CÁC TIẾN BỘ TRONG ĐIỀU TRỊ
  • >> Bạn biết gì về bệnh viêm gan siêu vi B

    >> Xơ gan

    Lời giới thiệu:

    Kiến thức về điều trị ung thư gan trong cộng đồng còn chưa được hiểu đầy đủ qua nhiều nguồn thông tin không chính thống, đặc biệt là internet.  Các ngôn từ sử dụng trong mô tả cách điều trị gây sự thu hút  nhưng không được hiểu đầy đủ ý nghĩa như : bỏ đói khối u, điều trị trúng đích, cấy hạt phóng xạ, phương pháp đông lạnh khối u…. Bài viết này hy vọng mang được các nhìn tổng quan và tương đối đầy đủ về các phương pháp điều trị ung thư gan hiện nay

    UNG THƯ GAN: CÁC TIẾN BỘ TRONG ĐIỀU TRỊ

    Ung thư tế bào gan nguyên phát là một trong năm lọai ung thư có tần suất và tỉ lệ tử vong cao nhất hiện nay trên thế giới, đặc biệt ở các nước châu Á (chiếm tổng số gần 75% số trường hợp trên thế giới).  Thông thường bệnh nhân được phát hiện giai đọan trễ (u có kích thước to, xâm lấn mạch máu hoặc di căn xa tới các cơ quan khác như phổi, tuyến thượng thận…) nên hiệu quả điều trị rất kém.  Hơn 90% ung thư tế bào gan liên quan tới viêm gan siêu vi B, siêu vi C và  tình trạng xơ gan. 

    Một yếu tố cũng ảnh hưởng đáng kể tới việc chọn lựa phương pháp điều trị là chức năng gan còn lại.  Tình trạng viêm gan mạn tính và xơ gan ảnh hưởng ít nhiều tới chức năng gan nên việc chọn lựa phượng pháp điều trị không thích hợp dẫn tới nguy cơ suy gan sau can thiệp điều trị.  Bên cạnh đó tác dụng của các thuốc như một số thuốc kháng viêm giảm đau, kháng sinh và ngay cả các thuốc đặc trị như interferon, sorafenib …sẽ làm cho tình trạng gan xấu hơn nếu được chỉ định không thích hợp. 

    Sau đây là các phương pháp điều trị ung thư gan hiện nay trên thế giới và các tiến bộ trong những năm gần đây

    Các khối ung thư chưa bước sang giai đọan di căn ra khỏi gan sẽ được điều trị bằng các phương pháp sau:

    Nhóm điều trị triệt để:

    - Phẫu thuật nội soi hoặc mổ mở: với sự cải tiến thiết bị phẫu thuật, phẫu thuật nội soi cũng đựơc xem như một phương pháp ít xâm lấn nên tai biến và bíến chứng giảm đáng kể và thời gian phục hồi nhanh; Tuy nhiên vị trí khối u sẽ ảnh hưởng không nhỏ tới chỉ định làm phẫu thuật nội soi hay mổ hở.

    - Hủy u tại chổ bằng nhiệt: (gồm nhiệt nóng và nhiệt lạnh): dựa trên nguyên lý nhiệt độ cao (>60-80 độ C) hoặc nhiệt độ thấp (< âm 20 độ C) trong một thời gian nhất định thì tế bào sẽ bị phá hủy. Nhóm sử dụng nhiệt nóng bao gồm dùng sóng cao tần (RFA - RadioFrequency), sóng vi ba (Microwave), laser, và siêu âm cường độ cao (HIFU).  Nhóm sử dụng nhiệt lạnh (cryoablation) là sử dụng CO2, Argon hoặc Helium… làm lạnh tế bào …Tuy nhiên việc hủy u bằng sóng cao tần RFA được xem là phương pháp được công nhận và ứng dụng nhiều nhất trên toàn thế giới, đặc biệt hiệu quả đối với u < 3cm; Hiện tại đã mở rộng chỉ định cho các khối u = 5cm do cải tiến thiết bị và kim chuyên dụng. Theo một số báo cáo mới nhất tại hội nghị gan mật châu Á - Thái Bình Dương (APASL) 2011 và hội nghị hình ảnh học can thiệp Châu Âu (CIRSE) 2010, hiệu quả RFA đối với u < 3cm, thời gian sống còn 5 năm là 76%, tương ứng với hiệu quả của phẫu thuật.  Điểm nổi bật ngoài hiệu quả hủy u là bảo tồn tối đa được chức năng gan còn lại, ít xảy ra tai biến và thời gian nằm viện ngắn.  RFA có thể thực hiện hầu hết các vị trí trong gan và kim đốt có thể được quan sát bằng các phương tiện hình ảnh như siêu âm, máy chụp cắt lớp, máy chụp mạch máu hoặc màn hình nội soi ổ bụng.  Phương pháp hủy u bằng nhiệt lạnh hay còn gọi là phương pháp đông lạnh có ưu điểm là thời gian hủy u nhanh tuy nhiên tai biến và biến chứng nhiều do khó kiểm soát được nhiệt lượng, đặc biệt nếu định vị không chính xác thì nguy cơ càng cao.  Phương pháp này chủ yếu ứng dụng nhiều trong ung thư xương.  Các phương pháp hủy u tại chổ khác hiện vẫn được ứng dụng trên thế giới như không rộng rãi do nhiều yếu tố như thiết bị quá đắt tiền, bảo hành bảo trì thiết bị phức tạp, tỉ lệ tai biến cao hơn

     Hình ảnh minh họa hủy u tại chổ bằng sóng RFA

    Chích cồn 99 độ hoặc acid acetid: được ứng dụng đối với u nhỏ <2cm và có ưu điểm là rẻ tiền nhưng phải thực hiện nhiều lần và bệnh nhân đau nhiều sau thủ thuật.  Do hủy u bằng RFA ngày càng phát triển nên kỹ thuật này ngày càng ít được sử dụng

    Ghép ganlà một trong những phương pháp điều trị triệt để hiệu quả nhưng việc ghép gan rất phụ thuộc vào nguồn gan cho và hiển nhiên chi phí rất cao lên đến hàng trăm ngà USD cho một trường hợp.

    Nhóm điều trị không triệt để chỉ định chủ yếu cho nhóm bệnh nhân không được phẫu thuật hoặc hủy u bằng sóng cao tần (RFA)

    Tắc động mạch gan có hoặc không có sử dụng hóa chất (TAE hoặc TACE): người dân hay gọi bằng “tô xi” hay còn gọi “bơm hóa chất và bỏ đói khối u”: nguyên lý là bằng một ống thông nhỏ (catheter) luồn tạị vi trí động mạch đùi lên tới nhánh nuôi u xuất phát từ động mạch gan và tiến hành bơm hóa chất (thường là Doxorubicine, Mytomicine C) và sau đó tắc mạch bằng lipiodol hoặc gelfoam.  Kỹ thuật này được thực hiện dưới máy chụp X quang có xóa nền và thường thực hiện 3-4 lần trong năm.  Chức năng gan còn lại rất quan trọng trong xét chỉ định TACE vì nguy cơ suy gan cao do độc tố của thuốc tại chỗ và toàn thân

    Truyền hóa chất định kỳ qua động mạch gan (HAIC Hepatic arterial Infusion Chemotherapy): lưu một đầu ống thông nhỏ tại động mạch gan và đầu còn lại nối với một cửa sổ để vào hóa chất nằm dưới da (thường là vị trí bẹn).  Thông qua cửa sổ này (chemoport), bệnh nhân sẽ được vào hóa chất định kì.  Hiện nay phương pháp này ít được sử dụng trên thế giới do hiệu quả giới hạn và tác dụng phụ nhiều

    Đưa chất phóng xạ vào khối u qua động mạch gan: tương tư phương pháp TACE nhưng sử dụng chất phóng xạ để đưa vào trong khối u.  Nguy cơ suy gan thường cao hơn so với phương pháp TACE kinh điển.  Đối với ung thư tế bào gan, không có phương pháp chiếu xạ (xạ ngoài) trong điều trị do gan luôn di động theo nhịp thở (do nằm sát cơ hoành)

    Phối hợp điều trị bằng TACE + RFA

    Đối với bệnh nhân mà khối u gan đã xâm lấn mạch máu hoặc di căn xa:

    Ngoài các phương pháp trên nếu không có chống chỉ định, bệnh nhân được điều trị kết hợp bằng nghiệm pháp  điều trị trúng đích (targeted therapy) như thuốc Sorafenib.  Dựa trên cơ chế bệnh sinh của ung thư tế bào gan, thuốc Sorafenib ức chế men Multikinase nhằm vào Serine/Threonine và các thụ thể Tyrosine kinases để giảm bớt sự tăng trưởng của khối u và sự tân tạo mạch máu (angiogenesis).  Theo một số báo cáo từ hội nghị APASL 2011 và CIRSE 2010, bước đầu ghi nhận đáng kể hiệu quả của thuốc và thuốc thường tác dụng tốt hơn trên người phương tây so với người châu Á.  Tác dụng phụ như 20% có hội chứng da – tay – chân (HFS syndrome), 30-50% rối lọan tiêu hóa, < 5% cao huyết áp…cũng xảy ra. 

    Chống chỉ định sử dụng thuốc Sorafenib đối với chức năng gan kém như nồng độ Bilirubin máu > 2mg/ml hoặc chỉ số xơ gan Child B lớn hoặc bằng 8 điểm.  Đây là một trong những tiến bộ trong phương pháp điều trị ung thư.  Hiện nay Sorafenib là thuốc duy nhất được cơ quan quản lý thuốc và thực phẩm của Hoa Kỳ và một số nước châu Âu và châu Á cho phép sử dụng như là hóa chất dùng cho toàn thân đối với ung thư tế bào gan.  Điểm không thuận lợi là giá thành thuốc đặc trị rất cao và thời gian sử dụng phải kéo dài ít nhất 4-6 tháng để đánh giá hiệu quả điều trị và quyết định có tiếp tục sử dụng tiếp hay không. 

    Một tiến bộ khác là sử dụng hạt dẫn thuốc DC bead trong kỹ thưật TACE kinh điển (conventional TACE).  Hiện nay trên thế giới ngày càng ít thực hiện các trường hợp TACE kinh điển mà sử dụng DEB – TACE (Drug Eluted Bead TACE). Có nghĩa là thực hiện như một phương pháp TACE bình thường kèm các hạt BEAD.  Những hạt này đóng vai trò tải và giữ thuốc lâu trong khối u là tăng hiệu quả trong việc gây họai tử u và giảm được tác dụng phụ trên toàn thân của hóa chất so với phương pháp TACE kinh điển.  Tần suất thực hiện TACE sẽ giảm do đó việc bảo tồn chức năng theo thời gian sẽ kéo dài. 

    Các phương pháp điều trị nêu trên đã được thực hiện tại nhiều bệnh viện tại Việt Nam.  Riêng kỹ thuật DEB- TACE sẽ được triển khai đầu tiên tại Việt Nam trong năm 2011.

    Để thực sự hiệu quả trong điều trị ung thư gan phải tập trung điều trị trên nhiều phương diện thuộc nhiều chuyên khoa (multidisciplinary) và tính ưu tiên của các phương diện này cần phải cần nhắc và điều chỉnh liên tục suốt quá trình điều trị và theo dõi.   Các vấn đề bao gồm:

    1.     Điều trị khối u

    2.     Điều trị viêm gan

    3.     Điều trị xơ gan

    4.     Điều trị các bệnh lý khác kèm theo như tiểu đuờng, cao huyết áp, rối lọan tiêu hóa

    5.     Dinh dưỡng của bệnh nhân

    Việc chọn lựa phương pháp điều trị cụ thể cho khối u, các điều trị phối hợp,  phương pháp theo dõi lâu dài và sự hợp tác và tuân thủ nghiêm túc của bệnh nhân và gia đình bệnh nhân sẽ là những yếu tố quan trọng góp phần kéo dài sự sống và tăng chất lượng sống khi đối diện với căn bệnh thế kỷ: UNG THƯ GAN!!!

    PK Bác sĩ Hoài Nam tổng hợp

Tin tức khác?

KỶ NGUYÊN PHẪU THUẬT ÍT XÂM LẤN TRONG CHUYÊN NGÀNH TIM MẠCH - LỒNG NGỰC

KỶ NGUYÊN PHẪU THUẬT ÍT XÂM LẤN TRONG CHUYÊN NGÀNH TIM MẠCH - LỒNG NGỰC

Thành phố Đà Nẵng trong 3 ngày 31/5-2/6 vừa qua, đã đón tiếp hơn 200 đại biểu là...

BỆNH PHỔI TẮC NGHẼN MẠN TÍNH

BỆNH PHỔI TẮC NGHẼN MẠN TÍNH

Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD, COAD hay COLD) là một dạng bệnh lý tắc...

U TRUNG THẤT CÓ NGUY HIỂM KHÔNG ?

U TRUNG THẤT CÓ NGUY HIỂM KHÔNG ?

U trung thất là danh từ dùng để chỉ khối u có nguồn gốc và phát triển trong...

NHỮNG BỆNH LÝ LIÊN QUAN TUYẾN TIỀN LIỆT

NHỮNG BỆNH LÝ LIÊN QUAN TUYẾN TIỀN LIỆT

Phần lớn nam giới ở độ tuổi 50 hoặc cao hơn có bệnh lý liên quan đến tuyến tiền...

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây