TÌM HIỂU VÀ KIỂM SOÁT TĂNG HUYẾT ÁP

17/08/2021
Tăng huyết áp (THA) là một vấn đề rất thường gặp trong Cộng đồng. Tỷ lệ người mắc Tăng huyết áp ngày càng tăng, và tuổi bị mắc mới cũng ngày một trẻ. Vào năm 2000, theo thống kê của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), toàn Thế giới có 972 triệu người bị THA và con số này được ước tính là vào khoảng 1,56 tỷ người vào năm 2025.
TÌM HIỂU VÀ KIỂM SOÁT TĂNG HUYẾT ÁP

Tăng huyết áp – Kẻ giết người thầm lặng

Tăng huyết áp (THA) là một vấn đề rất thường gặp trong Cộng đồng. Tỷ lệ người mắc Tăng huyết áp ngày càng tăng, và tuổi bị mắc mới cũng ngày một trẻ. Vào năm 2000, theo thống kê của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), toàn Thế giới có 972 triệu người bị THA và con số này được ước tính là vào khoảng 1,56 tỷ người vào năm 2025. THA nguy hiểm ở chỗ nó thường diễn biến âm thầm và gây ra những biến chứng nguy hiểm có thể đe dọa tính mạng người bệnh hoặc để lại gánh nặng tàn phế.

Huyết áp là gì và tại sao Huyết áp lại quan trọng?

Mọi người đều có và cần huyết áp. Nếu không có huyết áp, máu không tuần hoàn được trong cơ thể của con người. Nếu không có tuần hoàn máu, các cơ thể sống không nhận đủ oxy và dinh dưỡng để hoạt động theo nhu cầu.

Huyết áp được hiểu nôm na là áp lực của dòng máu đi nuôi cơ thể. Huyết áp được tạo bởi là do sức co bóp hút – đẩy máu của tim và sự co giãn của thành mạch. Huyết áp còn bị chi phối nhiều bởi nhịp tim, các yếu tố gây co mạch, thể tích tuần hoàn... Nếu bạn là người khỏe mạnh, động mạch của bạn có tính đàn hồi.

Thế nào là Huyết áp bình thường và bị Tăng huyết áp?

Khi bạn đo huyết áp, có hai trị số huyết áp, ví dụ: 117/78 mmHg. Số ở trên hay số lớn hơn gọi là huyết áp tối đa (hay còn gọi là huyết áp tâm thu) phản ánh huyết áp của động mạch khi tim bóp. Số ở dưới hay số nhỏ hơn gọi là huyết áp tối thiểu (hay huyết áp tâm trương) phản ánh huyết áp khi tim giãn ra trong một chu kỳ co bóp của quả tim.

Bình thường, huyết áp của người lớn là dưới 120/80 mmHg. Khi huyết áp từ 120-139/80-89 được coi là “ huyết áp bình thường – cao”. Nếu bạn là người lớn và huyết áp của bạn là 140/90 mmHg hoặc cao hơn, bạn đã bị tăng huyết áp (THA). Nếu bạn bị bệnh Tiểu đường hoặc bệnh Thận, con số huyết áp của bạn tốt nhất là dưới 130/80mmHg.

Nếu huyết áp của bạn cao hơn ngưỡng này, bạn đã bị coi là Tăng huyết áp và cần điều trị. Bác sĩ của bạn có thể cần phải đ huyết áp vài lần nữa trong một khoảng thời gian trước khi khẳng định bạn bị tăng huyết áp.

Nguyên nhân nào gây ra Tăng huyết áp?

Khoảng 90-95% các trường hợp bị tăng huyết áp là không có nguyên nhân trực tiếp (hay còn gọi THA tiên phát). Có một vài yếu tố làm tăng khả năng mắc bệnh tăng huyết áp. Chúng được gọi là yếu tố nguy cơ.

Yếu tố nguy cơ bạn có thể điều chỉnh được:

  • ­       Thừa cân và Béo phì: Người có chỉ số khối cơ thể (BMI) là 23 hoặc cao hơn có nguy cơ bị tăng huyết áp cao hơn.
  • ­       Ăn nhiều muối: làm tăng huyết áp ở một số người
  • ­       Hút thuốc lá gây co mạch và tăng xơ vữa mạch.
  • ­       Rượu: uống rượu nặng và thường xuyên có thể gây THA đột ngột.
  • ­       Thiếu vận động: một cuộc sống tĩnh lặng dễ dẫn đến thừa cân và làm tăng nguy cơ bị THA.
  • ­       Stress: nó được đề cập đến như một yếu tố nguy cơ. Tuy nhiên, mức độ stress rất khó đánh giá và thay đổi theo từng người.

Yếu tố nguy cơ bạn không thể điều chỉnh được

  • ­       Chủng tộc: Ví dụ: người Mỹ gốc Phi có nguy cơ tăng huyết áp hơn người Capcasians, và có xu hướng tăng huyết áp sớm hơn và nặng hơn.
  • ­       Di truyền: tăng huyết áp có xu hướng di truyền. Nếu bố mẹ hoặc những người thân của bạn bị tăng huyết áp, bạn có nguy cơ bị bệnh này cao hơn.
  • ­       Tuổi: nhìn chung, tuổi càng cao bạn càng dễ bị tăng huyết áp. Tăng huyết áp thường xảy ra ở người trên 35 tuổi. Đàn ông thường bắt đầu bị tăng huyết áp từ 35-50. Phụ nữ có thể bại tăng huyết áp sau mãn kinh.

Có khoảng < 10% số người bị tăng huyết áp là do một bệnh hoặc yếu tố nào đó gây ra. Đây gọi là THA thứ phát, hay THA có căn nguyên. Khi bạn bị tăng huyết áp xuất hiện sớm (khi còn trẻ) hoặc THA rất khó không chế thì cần tìm hiểu kỹ xem có nguyên nhân nào không. Những nguyên nhân gây THA thứ phát thường gặp là:

  • ­       Các bệnh lý về Thận: Viêm cầu thận cấp; Viêm cầu thận mạn tính; Sỏi thận, niệu quản; Hẹp động mạch thận ...
  • ­       Các bệnh nội tiết: Cường tuyến giáp; Cường tuyến yên; Bệnh u tế bào ưa crom (U tủy thượng thận); U vỏ thượng thận ...
  • ­       Các bệnh lý mạch máu và tim: Hở van động mạch chủ: Hẹp eo động mạch chủ; Bệnh Takayasu ...
  • ­       Tăng huyết áp do nhiễm độc thai nghén.
  • ­       Tăng huyết áp do dùng một số thuốc: Thuốc chữa ngạt mũi, chữa hen; thuốc tránh thai; thuốc đông y như cam thảo ...
  • ­       Tăng huyết áp do yếu tố tâm thần: lo lắng, sợ sệt quá mức ...

Tăng huyết áp có triệu chứng gì không?

Tăng huyết áp thường không có triệu chứng gì. Trên thực tế, rất nhiều người bị tăng huyết áp trong nhiều năm mà không biết, cho đến khi đi khám bệnh hoặc đã bị các biến chứng nguy hiểm do THA gây ra rồi mới biết mình bị THA. Đó là lý do tại sao tăng huyết áp lại nguy hiểm và được coi là “ kè giết người thầm lặng”.

Cách duy nhất để biết mình bị tăng huyết áp là đo huyết áp. Bác sĩ hoặc nhân viên Y tế có thể đo huyết áp cho bạn. Hãy tham khảo ở bảng sau để biết mức độ huyết áp của bạn

Bảng 1. Phân loại THA theo WHO-ISH và khuyến cáo Hội Tim mạch Việt Nam năm 2010

Khái niệm

HA Tâm thu(mmHg)

 

HA Tâm trương (mmHg)

HA tối ưu

< 120

< 80

HA bình thường

< 130

< 85

Bình thường cao

130 - 139

Và / hoặc

85 - 89

Tăng huyết áp

 

 

 

Giai đoạn I

140 - 159

Và / hoặc

90 – 99

Giai đoạn II

160 – 179

Và / hoặc

100 – 109

Giai đoạn III

≥ 180

Và / hoặc

≥ 110

 

Tăng huyết áp có nguy hiểm không? Tại sao?

THA rất nguy hiểm và được coi là “ Kẻ giết người thầm lặng”

Tăng huyết áp thường diễn biến âm thầm và ảnh hưởng đến nhiều cơ quan bộ phận cơ thể của bạn và bằng nhiều cách. THA làm tăng gánh nặng cho tim và hệ thống động mạch của bạn. Tim của bạn phải làm việc nặng hơn trong một thời gian dài, nên nó có xu hướng to ra. Tim cũng phải giãn ra và thành tim bị dày lên để bù lại, nhưng nếu quá trình này diễn biến lâu ngày quá giới hạn sẽ dẫn đến suy tim. Tăng huyết áp cũng thúc đẩy và gây ra xơ vữa động mạch. Đây là một bệnh lý nguy hiểm dẫn tới nhiều biến chứng tim mạch (như Tai biến mạch máu não; Nhồi máu cơ tim, bệnh Động mạch vành mạn tính, bệnh Động mạch chủ hoặc Động mạch ngoại vi ...). Bên cạnh đó, THA còn có thể làm tổn thương Thận và Mắt. Các nghiên cứu cho thấy: Người bị tăng huyết áp không được kiểm soát thì nguy cơ: Bệnh Động mạch vành tăng gấp 3 lần; Suy tim tăng 6 lần; Đột quỵ tăng 7 lần ... Các biến chứng gây ra THA có thể cấp tính, có thể âm thầm và do vậy không những nguy hiểm đe dọa tính mạng mà còn ảnh hưởng nghiêm trọng tới chất lượng cuộc sống của bạn.

Cần làm gì để ngăn ngừa nguy cơ bị THA và các biến chứng khi bị THA

Đúng là THA rất nguy hiểm, nhưng chúng ta hoàn toàn có thể phòng ngừa được một cách có hiệu quả. Hãy chung sống hòa bình với THA, và khống chế tốt nó để chúng ta có cuộc sống bình thường.

Việc điều trị Tăng huyết áp là một quá trình lâu dài và tổng thể dựa trên sự kết hợp giữa nhiều chế độ: giảm cân, chế độ ăn, tập luyện hợp lý và thuốc. Sau đây là vài lời khuyên:

Chế độ ăn uống:

Một chế độ ăn hợp lý có thể giúp làm giảm huyết áp và kiểm soát cân nặng. Chế độ ăn hợp lý tóm tắt như sau:

Tăng khẩu phần: hoa quả, rau, các loại ngũ cốc và gạo chế biến thô, thực phẩm nhiều xơ, thức ăn không có mỡ và rất ít mỡ, thịt gia cầm không da, thịt nạc, ăn cá (nhất là loại có nhiều Omega 3 như cá hồi, cá trích,...) ít nhất 2 lần / tuần.

Giảm tối đa: muối (ăn mặn), chất béo bão hòa hoặc trans fats (mỡ động vật, phủ tạng động vật, thực phẩm ăn sẵn chiên rán,...)

Hạn chế: thêm đường ngọt.

Vấn đề muối ăn ngày càng được nhấn mạnh trong việc điều trị và kiểm soát THA. Muối hiện được coi là một trong những nguy cơ quan trọng của THA. Hiện nay, xu hướng ăn nhiều muối hơn nhu cuầ đang gia tăng ở các nước được các hãng thức ăn nhanh và hàng quán lợi dụng, vì đồ ăn mặn làm cho người ta thèm ăn hơn và nhớ món ăn hơn. Điều này có thể được khắc phục bằng cách thêm thảo dược và gia vị như là phụ gia, bữa ăn của bạn vẫn đủ hấp dẫn. Cần chú ý đọc kỹ hàm lượng muối trên các loại thức ăn và chú ý hạn chế muối khi chế biến thức ăn.

Giảm cân nặng:

Rất nhiều người tăng huyết áp bị thừa cân. Nếu điều này xảy ra với bạn, Bác sĩ của bạn có thể chỉ định một chế độ ăn và tập luyện cho bạn. Thường thì khi giảm cân, huyết áp của bạn có thể sẽ giảm xuống theo một cách đáng kể. Bên cạnh đó, thừa cân còn là một yếu tố nguy cơ của bệnh tim mạch. Bằng cách giảm cân, huyết áp của bạn sẽ giảm và bạn cũng sống khỏe mạnh hơn.

Nếubạn thực hiện chế độ ăn kiêng, bạn phải tuân thủ nó chặt chẽ bao gồm: giảm lượng rượu bạn uống vào. Rượu ít dinh dưỡng và giàu năng lượng. Vì vậy nếu bạn đang giảm cân hãy tránh xa rượu.

Chế độ tập luyện:

Tập luyện thể lực là một phần không thể thiếu được của chương trình điều trị hàng ngày. Tập thể dục giúp giảm huyết áp và giảm cân nặng hoặc giữ có cơ thể ở mức cân nặng lý tưởng. Chế độ tập luyện tối ưu là tập luyện ít nhất 30 phút mỗi ngày và hầu hết các ngày trong tuần, cường độ tập đủ mạnh (Bác sĩ có thể gợi ý phương pháp tốt nhất để luyện tập đối với bạn nếu bạn có vấn đề tim mạch)...

Bỏ hút thuốc lá ngay:

Các bằng chứng nghiên cứu cho thấy rõ nguy cơ của hút thuốc lá với THA và các biến cố tim mạch, người THA mà hút thuốc lá sẽ làm nguy cơ tim mạch tăng gấp nhiều lần. Việc bỏ hút thuốc lá cũng làm giảm đáng kể các nguy cơ tim mạch ở Bệnh nhân THA. Do vậy, hãy bỏ hút thuốc lá ngay nếu bạn đang hút.

Hạn chế uống rượu quá mức:

Nếu bạn uống quá nhiều rượu thì hãy hạn chế bởi uống rượu nhiều làm tăng nguy cơ béo phì, THA khó kiểm soát, tăng nguy cơ Tai biến mạch não. Lượng rượu được khuyến cáo uống tối đa hàng ngày là một đơn vị uống (tương đương 142 ml rượu vang đỏ; 341 ml bia; 43 ml rượu mạnh – đây là áp dụng cho người phương Tây, người Châu Á có thể lượng thấp hơn).

Hãy kiểm soát tốt những căng thẳng:

Căng thẳng kích thích các phản ứng cường thần kinh giao cảm của cơ thể, tăng tiết các chất adrenalin và làm tăng nguy cơ các biến cố tim mạch ở Bệnh nhân THA và làm tăng tần số các cơn THA. Bạn hãy thu xếp công việc, cuộc sống ở mức căng bằng nhất. Hãy tham gia tập luyện, thư giãn để giúp bạn tránh khỏi những căng thẳng gặp phải.

Thuốcđiều trị:

Khi huyết áp của bạn tăng trên giới hạn cho phép hoặc khi có những nguy cơ đi kèm thì thầy thuốc sẽ cho bạn thuốc để làm giảm huyết áp. Hiện nay, chúng ta vui mừng là có nhiều loại thuốc hạ huyết áp với hiệu quả tốt hơn và ít tác dụng phụ hơn. Vấn đề đặt ra là bạn phải cần phải nắm rõ là việc điều trị THA là để ngăn ngừa các biến chứng lâu dài và việc uống thuốc, do vậy cũng phải kiên trì lâu dài theo chỉ định của thầy thuốc. Có nhiều loại thuốc chữa huyết áp khác nhau với các cơ chế như làm giảm dịch và muối, hoặc làm giãn mạch, một số khác ngăn cản sự co mạch và làm hẹp lòng mạch, từ đó làm giảm huyết áp.

Thuốc có tác dụng làm giảm huyết áp trong hầu hết các trường hợp nhưng tác dụng hạ huyết áp lại rất khác nhau tùy từng cơ thể. Do vậy, bạn có thể phải cần một giai đoạn dùng thử trước khi tìm ra được một thuốc tốt nhất.

Tùy thuộc vào việc đánh giá toàn trạng của bạn và các bệnh lý đi kèm cũng như những ảnh hưởng (đã có) do THA gây ra mà Bác sĩ sẽ kê cho bạn loại thuốc nào là phù hợp nhất. Một số thuốc được ưu tiên lựa chọn là: thuốc lợi tiểu, thuốc ức chế men chuyển, thuốc ức chế thụ thể angiotensin, thuốc chẹn kênh calci, thuốc chẹn beta giao cảm.

Hiện nay, các Bác sĩ có xu hướng kê thuốc phối hợp thuốc ngay từ đầu để khống chế tốt hơn huyết áp cho bạn nếu huyết áp của bạn ở mức khá cao hoặc có nhiều nguy cơ đi kèm.

Các thuốc hạ huyết áp chỉ có tác dụng khi bạn dùng thuốcvà sẽ hết khi bạn ngừng. Do vậy, bạn không được ngừng thuốc ngay cả khi huyết áp đã giảm bình thường. Điều trị cần phải được duy trì lâu dài để đạt được tác dụng tốt, tránh được các biến chứng. Bạn không nên lo lắng nếu phải dùng thuốc lâu dài, vì với liều điều trị, thuốc hạ huyết áp sẽ giữ cho huyết áp bạn ổn định, đưa bạn về cuộc sống gần bình thường và thường không làm huyết áp của bạn bị tụt thấp đến mức nguy hiểm.

Nếu bạn đang điều trị với bất kì thuốc nào, liều lượng cần phải được lưu ý cẩn thận. Bạn cần khám Bác sĩ thường xuyên ít nhất cho đến khi huyết áp được điều khiển. Sau đó bạn cần đi khám 3-4 lần trong một năm.

Cũng như tất cả các thuốc điều trị, thuốc hạ huyết áp cũng có thể có tác dụng phụ. Tuy vậy, đa số thuốc hạ huyết áp nếu dùng đúng chỉ định là khá an toàn và các tác dụng phụ là ít.

Bạn phải làm gì cho chính bản thân khi được điều trị?

  • ­       Tuân thủ chặt chẽ chế độ điều trị là vấ đề cốt lõi của thành công. Để điều trị thành công tăng huyết áp cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa Bác sĩ và bạn.
  • ­       Khám bệnh theo đúng hẹn của Bác sĩ.
  • ­       Uống thuốc đúng theo đơn, báo với Bác sĩ những bất thường bạn gặp phải để Bác sĩ kịp thời chỉnh lại chế độ điều trị.
  • ­       Tuân thủ chặt chẽ theo lời khuyên vầ chế độ ăn, chế độ tập luyện và thay đổi lối sống.
  • ­       Kiên trì theo dõi điều trị.

Một số điểm lưu ý đối với Tăng huyết áp

  • ­       Hãy biết con số huyết áp của bản thân và các nguy cơ tim mạch đi kèm.
  • ­       Tăng huyết áp gây nhiều biến chứng nguy hiểm.
  • ­       Kiểm soát tốt huyết áp giúp hạn chế đáng kể các biến chứng.
  • ­       Luôn luôn tôn trọng chế độ tập luyện, ăn uống khoa học cũng như thay đổi lối sống.
  • ­       Điều trị THA là nhằm giảm các biến chứng của THA chứ không phải là hạ huyết áp đơn thuần.
  • ­       Huyết áp thường không thể khỏi hoàn toàn, nên qu1 trình điều trị là lâu dài và có thể kéo dài đến suốt đời. Do vậy, cần phải kiên trì và tuân thủ chế độ điều trị. Tuyệt đối không được sử dụng những biện pháp chưa có cơ sở khoa học để điều trị và lầm tưởng là khỏi bệnh để không tiếp tục dùng thuốc.
  • ­       Việc dùng thuốc rất tùy thuộc vào từng cơ thể nên cần phải được sự chỉ định chặt chẽ của thầy thuốc.
  • ­       Việc hạ huyết áp đến mức nào là do Bác sĩ quyết định. Thông thường thì nên dưới 140/90 mmHg. Trong trường hợp bạn đã có biến chứng tim mạch, đái tháo đường hoặc suy thận thì cần hạ thấp hơn nữa dưới 130/80 mmHg.

CÁC DẤU HIỆU CẢNH BÁO BIẾN CỐ TIM MẠCH

Các dấu hiệu của cơn Đau Thắt ngực – Nhồi máu Cơ tim

  • ­       Đau Thắt ngực hoặc cảm giác khó chịu vùng ngực: Cảm giác giống như bị đè nặng, bóp nghẹt, đầy tức hoặc đau... kéo dài vài phút đến vài chục phút. Cơn đau có thường xuyên xuất hiện khi gắng sức, đỡ khi nghỉ.
  • ­       Cảm giác khó chịu ở những vị trí khác có thể gặp: cũng có thể đau hoặc tức lan ra 1 hay 2 bên cánh tay, hướng ra sau lưng, lên cổ, hàm thậm chí ở vùng dạ dày.
  • ­       Khó thở: có thể xảy ra kèm hoặc không kèm với tức ngực.
  • ­       Các dấu hiệu khác: vã mồ hôi, buồn nôn hay đau đầu...
  • ­       Một số trường hợp đau không điển hình hoặc không đau: có thể gặp như mệt lả, khó thở, buồn nôn, nôn, đau lan ra sau lưng hay lên hàm...

Dấu hiệu Tai biến mạch não

  • ­       Đột ngột tê hay yếu một bên mặt, tay hoặc chân.
  • ­       Đột ngột choáng, nói khó hoặc không hiểu lời người khác nói.
  • ­       Đột ngột đau đầu dữ dội không rõ nguyên nhân.

Nếu bạn hoặc ai đó có bất kỳ triệu chứng trên hãy gọi cấp cứu 115 ngay lập tức hoặc đến Bệnh viện ngay. Nếu bạn có các triệu chứng trên, cần gọi ai đó đưa ngay bạn đi cấp cứu. Đừng tự lái xe trừ khi bạn không thể tìm được người giúp đỡ.

PGS TS BS Nguyễn Hoài Nam
Giảng viên Đại học Y dược TP Hồ Chí Minh
Cố vấn Y khoa bệnh viện Minh Anh
Chủ tịch Hội Tĩnh Mạch học Tp.HCM

 

Tin tức khác?

KỶ NGUYÊN PHẪU THUẬT ÍT XÂM LẤN TRONG CHUYÊN NGÀNH TIM MẠCH - LỒNG NGỰC

KỶ NGUYÊN PHẪU THUẬT ÍT XÂM LẤN TRONG CHUYÊN NGÀNH TIM MẠCH - LỒNG NGỰC

Thành phố Đà Nẵng trong 3 ngày 31/5-2/6 vừa qua, đã đón tiếp hơn 200 đại biểu là...

BỆNH PHỔI TẮC NGHẼN MẠN TÍNH

BỆNH PHỔI TẮC NGHẼN MẠN TÍNH

Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD, COAD hay COLD) là một dạng bệnh lý tắc...

U TRUNG THẤT CÓ NGUY HIỂM KHÔNG ?

U TRUNG THẤT CÓ NGUY HIỂM KHÔNG ?

U trung thất là danh từ dùng để chỉ khối u có nguồn gốc và phát triển trong...

NHỮNG BỆNH LÝ LIÊN QUAN TUYẾN TIỀN LIỆT

NHỮNG BỆNH LÝ LIÊN QUAN TUYẾN TIỀN LIỆT

Phần lớn nam giới ở độ tuổi 50 hoặc cao hơn có bệnh lý liên quan đến tuyến tiền...

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây