NHỮNG HIỂU BIẾT VỀ BỆNH TRĨ- PHẦN IV

17/08/2021
Các thủ thuật này nhằm làm đông, nghẽn, bít hay xơ hóa các cuống mạch máu của các búi trĩ phía trên vùng chuyển tiếp. Vùng mô tại chỗ điều trị hoại tử để lại một vết loét và dần dần tạo thành mô xơ.


Đốt điện một chiều, lưỡng cực hay quang đông hồng ngoại

Các thủ thuật này nhằm làm đông, nghẽn, bít hay xơ hóa các cuống mạch máu của các búi trĩ phía trên vùng chuyển tiếp. Vùng mô tại chỗ điều trị hoại tử để lại một vết loét và dần dần tạo thành mô xơ.

Thấu thiệt hay đốt điện lưỡng cực là đặt các xung điện 20W trong 1 giây cho đến khi những mô bên dưới chỗ áp đông lại (thường <30 giây). Khoảng 12% bệnh nhân đau, chảy máu, nứt hay co cứng cơ thắt. Thường cần phải đốt điện nhiều lần ở một nơi, đặc biệt là cho trĩ độ 2 và trĩ độ 3 (lên đến 3 lần cho một nơi). Độ sâu của thương tổn do đốt lưỡng cực là 2,2 mm và không sâu thêm khi đốt nhiều lần ở một nơi. Đốt điện lưỡng cực được chỉ định cho trĩ nội độ 1, độ 2, độ 3, tỷ  thành công từ  88-100% (hết chảy máu) trong các nghiên cứu phân phối ngẫu nhiên. Đốt điện không điều trị hết mô sa, có đến 20% bệnh nhân cần phải cắt trĩ.

Đốt điện đơn cực thời gian áp điện kéo dài (lên đến 14 phút) với dòng điện một chiều 110V (lên đến 15 mA) vào gốc các búi trĩ phía trên vùng chuyển tiếp của hậu môn. Cần tăng dòng điện và thời gian khi độ trĩ càng nặng. 30%  bệnh nhân cần phải áp điện nhiều lần ở cùng một nơi. Tuy nhiên trong nhiều nghiên cứu phân phối ngẫu nhiên sử dụng dòng điện đủ (16mA) và thời gian kéo dài (10 phút), chảy máu được kiểm soát trong 88% bệnh nhân trĩ độ 1, độ 2, độ 3. Các biến chứng gồm có đau (33%), loét (4%), và chảy máu (10%).

Quang đông hồng ngoại tập trung các tia hồng ngoại từ một bóng đèn tungsten-halogen qua một đầu đốt bằng polymer. Đầu đốt chạm vào mô trĩ ở gốc của búi trĩ; phát ra các xung năng lượng từ 0,5-2 giây đến vùng đốt. Có thể điều trị cho nhiều búi trĩ cùng một lúc. Độ sâu mô bị thương tổn là vào khoảng 2,5 mm, độ xuyên thấu tăng khi đốt nhiều lần trên cùng một nơi. Trong 2 nghiên cứu ngẫu nhiên, chảy máu do trĩ được kiểm soát trong 67-96% bệnh nhân có trĩ độ 1, độ 2. Biến chứng ít gặp là đau và chảy máu.

Đốt điện không điều trị hết mô sa, có đến 20% bệnh nhân cần phải cắt trĩ.

Mỗi phương pháp thủ thuật có chỉ định của nó. Có nhiều nghiên cứu ngẫu nhiên so sánh một phương pháp với một hay nhiều phương pháp khác, tuy nhiên chưa có nghiên cứu nào so sánh cả 5 thủ thuật (chích xơ, thắt dây thun, đốt điện lưỡng cực, đốt điện 1 chiều, và quang đông hồng ngoại). Johanson và Rimm phân tích tổng hợp 5 nghiên cứu gồm tổng cộng 862 bệnh nhân trĩ độ 1 và trĩ độ 2 được điều trị bằng quang đông hồng ngoại, chích xơ, và thắt dây thun. Thắt dây thun hiệu quả hơn chích xơ, và bệnh nhân điều trị bằng thắt dây thun có số lần điệu trị ít hơn điều trị với chích xơ hay quang đông hồng ngoại. Tuy nhiên, thắt dây thun thường kết hợp với tần xuất đau cao hơn 2 phương pháp kia. Do đó Johanson và Rimm đề nghị nên chọn quang đông hồng ngoại như là phương pháp điều trị không mổ.

MacRae và cộng sự thực hiện tổng phân tích tương tự cho 23 nghiên cứu so sánh thắt dây thun, quang đông hồng ngoại, chích xơ, cắt trĩ và nong hậu môn bằng tay cho những bệnh nhân có trĩ độ 1, độ 2, và độ 3. Cũng như Johanson và Rimm các tác giả nhận thấy rằng thắt dây thun hiệu quả hơn và cần ít lần điều trị hơn chích xơ và quang đông hồng ngoại, và gây đau nhiều hơn. Mặc dù kết quả nghiên cứu giống nhau MacRae và cộng sự vẫn đề nghị thắt dây thun là phương pháp lựa chọn đầu tiên để điều trị cho trĩ độ 1, độ 2 và độ 3 vì hiệu quả điều trị cao hơn.

Điều trị ngoại khoa

Cắt trĩ  là phương pháp điều trị hiệu quả cho tất cả các loại trĩ đặc biệt là trĩ độ 3. Tái phát hiếm nếu kỹ thuật phẫu thuật tốt. Tuy nhiên thủ thuật là chọn lựa đầu tiên vì phẫu thuật gây đau nhiều và biến chứng nhiều hơn. Kỹ thuật cắt trĩ bao gồm cắt bỏ phần trĩ ngoài và trĩ nội từ 1-3 phần tư chung quanh ống hậu môn, khâu hay thắt phần trĩ nội và cắt phần trĩ ngoại, hay thực hiện cắt trĩ nội và trĩ ngoại và phần trực tràng sa phía dưới đường lược.

Nong hậu môn được xem như là phương pháp phẫu thuật không cắt trĩ, phương pháp này được nhiều trung tâm ở Châu Âu chấp nhận. Tuy nhiên khi thực hiện siêu âm trong hậu môn người ta thấy tổn thương cơ thắt thường kết hợp với nong hậu môn, và nhiều nghiên cứu lâm sang cho thấy tỷ lệ mất tự chủ cao. Konsten và Baeten báo cáo theo dõi dài hạn (trung vị, 17 năm) kết quả nghiên cứu tiền cứu ngẫu nhiên cắt trĩ so với nong hậu môn; 52% bệnh nhân trong nhóm nong hậu môn có không tự chủ hậu môn trong thời gian theo dõi. Hơn nữa nong hậu môn có tỷ lệ thất bại cao hơn cắt trĩ trong các nghiên cứu tiền cứu ngẫu nhiên. Do nguy cơ mất tự chủ cao nên phần lớn các tác giả không sử dụng phương pháp này để điều trị trĩ.

Phẫu thuật được chỉ định cho những trường hợp trĩ quá to không điều trị bằng những phương pháp khác được, điều trị bằng những phương pháp không phẫu thuật thất bại, bệnh nhân yêu cầu, và có các bệnh khác kèm theo cần phải điều trị phẫu thuật (như nứt hay rò hậu môn). Khoảng 5-10% bệnh nhân có trĩ độ 3, độ 4 cần phải được phẫu thuật cắt trĩ.

Phẫu thuật cắt trĩ bao gồm cắt trĩ kín hay cắt trĩ hở. Cắt trĩ theo Milligan-Morgan, được sử dụng rộng rãi tại Liên Hiệp Anh, các thành phần trĩ nội và trĩ ngoại được cắt đi và da được để như 3 lá giao nhau và lành da kỳ hai trong vòng 4-8 tuần . Theo phương pháp cắt trĩ Ferguson các búi trĩ được cắt đi, và vết thương được khâu kín ngay kỳ đầu.

Bốn nghiên cứu có phân phối ngẫu nhiên so sánh phương pháp cắt trĩ khâu kín và để hở. Ban nghiên cứu cho thấy không có khác nhau về đau sau mổ. Khác nhau về lành vết thương giữa hai phương pháp không đáng kể. Một nghiên cứu khác cho thấy cắt trĩ dưới niêm mạc thì ít đau và trở lại làm việc nhanh hơn phương pháp cắt trĩ Molligan- Morgan.

(BỆNH VIỆN MINH ANH)


Tin tức khác?

KỶ NGUYÊN PHẪU THUẬT ÍT XÂM LẤN TRONG CHUYÊN NGÀNH TIM MẠCH - LỒNG NGỰC

KỶ NGUYÊN PHẪU THUẬT ÍT XÂM LẤN TRONG CHUYÊN NGÀNH TIM MẠCH - LỒNG NGỰC

Thành phố Đà Nẵng trong 3 ngày 31/5-2/6 vừa qua, đã đón tiếp hơn 200 đại biểu là...

BỆNH PHỔI TẮC NGHẼN MẠN TÍNH

BỆNH PHỔI TẮC NGHẼN MẠN TÍNH

Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD, COAD hay COLD) là một dạng bệnh lý tắc...

U TRUNG THẤT CÓ NGUY HIỂM KHÔNG ?

U TRUNG THẤT CÓ NGUY HIỂM KHÔNG ?

U trung thất là danh từ dùng để chỉ khối u có nguồn gốc và phát triển trong...

NHỮNG BỆNH LÝ LIÊN QUAN TUYẾN TIỀN LIỆT

NHỮNG BỆNH LÝ LIÊN QUAN TUYẾN TIỀN LIỆT

Phần lớn nam giới ở độ tuổi 50 hoặc cao hơn có bệnh lý liên quan đến tuyến tiền...

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây