NHỮNG HIỂU BIẾT VỀ BỆNH TRĨ- PHẦN III

17/08/2021
Gần đây có nhiều nghiên cứu liên quan đến vấn đề phòng ngừa và điều trị nội khoa bệnh trĩ. Khuyến cáo toàn cầu nên bổ sung chất xơ trong chế độ ăn và tránh rặn khi đi cầu

Điều trị nội khoa

Gần đây có nhiều nghiên cứu liên quan đến vấn đề phòng ngừa và điều trị nội khoa bệnh trĩ. Khuyến cáo toàn cầu nên bổ sung chất xơ trong chế độ ăn và tránh rặn khi đi cầu. Một nghiên cứu đối chứng với giả dược, mù đôi cho thấy sử dụng psyllium làm giảm chảy máu, và đau khi đi cầu do trĩ, nhưng các nghiên cứu khác cho thấy chất xơ sợi cho kết quả kém ấn tượng và không có ý nghĩa. Bởi vì tiêu chảy làm nặng thêm triệu chứng bệnh trĩ, do đó điều trị tiêu chảy bằng các chất sợi, ức chế nhu động và điều trị chuyên biệt các nguyên nhân gây ra tiêu chảy là thích hợp.

Các thuốc sử dụng tại chỗ hay thuốc đặt không cần kê đơn trở nên quen thuộc trong điều trị hàng ngày, tuy nhiên chưa có số liệu thống kê ủng hộ việc này. Thuốc giảm đau tại chỗ có thể làm giảm đau và ngứa. Kem corticoids có thể làm giảm viêm quanh hậu môn, tuy nhiên chưa có số liệu cho thấy nó thật sự làm giảm sưng, giảm chảy máu và giảm sa trĩ. Sử dụng lâu dài các kem corticoids mạnh có hại và không nên dùng. Trong một số nghiên cứu tiền cứu cho thấy dầu nitroglycerin làm giảm đau của trĩ ngoại tắc mạch do huyết khối nhờ làm giảm trương lực ống hậu môn.

Một số tác giả đề nghị sử dụng cho trĩ độ 4 sau phẫu thuật làm giảm sa các búi trĩ sa kẹt

Nhiều nghiên cứu đánh giá việc sử dụng flavonoid dạnh vi hạt tinh khiết bằng đường uống. Flavonoid làm tăng trương lực tĩnh mạch, tăng dẫn lưu bạch huyết, tăng sức kháng của mao mạch, bình thường hóa tính thấm mao mạch. Hai thử nghiệm đối chứng với giả dược cho thấy triệu chứng cải thiện khi sử dụng MPFF, nhưng kết quả không thay đổi khi kết hợp với chất xơ sợi. Ho và cộng sự sử dụng kết hợp MPFF và chất xơ sợi làm giảm nhanh trĩ chảy máu so với sử dụng chất xơ sợi đơn thuần hay kết hợp với thắt dây thun. Ngược lại, Thanapongsathorn và cộng sự so sánh sử dụng chất sợi có hay không có kết hợp với MPFF trong nghiên cứu thử nghiệm mù đôi và kết quả cho thấy tác dụng tương tự nhau sau 14 ngày. Cho đến nay MPFF chưa được Cơ Quan Quản Lý Dược Phẩm và thuốc chấp nhận cho sử dụng tại Hoa Kỳ.

Điều trị thủ thuật

Hiện có nhiều phương pháp điều trị trĩ cho bệnh nhân không cần phẫu thuật.  Các phương pháp này có thể thực hiện tại phòng mạch và không cần vô cảm. Mặc dù không phẫu thuật nhưng các phương pháp này có khả năng làm mất búi trĩ bằng cách tạo huyết khối, xơ hóa, hay hoại tử phần niêm mạc của búi trĩ.

Chích xơ

Đây là một trong những thủ thuật lâu đời nhất được Morgan mô tả lần đầu tiên năm 1869 tại Dublin. Chích xơ được chỉ định điều trị cho trĩ độ 1 và 2. Chích dưới niêm mạc 5ml dầu phesnol 5%, 5% quinine và urea, hay nước muối ưu trương (23,4%) vào gốc búi trĩ gây huyết khối trong mạch máu, xơ hóa mô liên kết, gây có và cố định lớp niêm mạc phủ trên búi trĩ. Chích xơ không cần phải vô cảm và chỉ mất vài phút thực hiện với soi hậu môn. Khoury và cộng sự thực hiện nghiên cứu tiền cứu chích xơ cho những bệnh nhân trĩ độ 1 và 2 đã được điều trị nội khoa. Trong đó 89,9% bệnh nhân khỏi bệnh hay có cải thiện, không có sự khác nhau giữa chích nhiều lần và một lần.

Ngược lại, Senapati và Nicholls thực hiện một nghiên cứu có đối chứng và phân phối ngẫu nhiên kết quả cho thấy không có sự khác nhau về tỷ lệ chảy máu giữa chích xơ kết hợp thuốc nhuận tràng tạo khối phân so với sử dụng thuốc nhuận tràng tạo khối phân đơn thuần. Mặc dù thủ thuật chích xơ ít xâm hại nhưng cũng có thể gây biến chứng. Đau chiếm 12-70% bệnh nhân. Liệt dương,  tiểu khó, và áp xe không thấy báo cáo. Trong một nghiên cứu, khoảng 30% bệnh nhân tái phát triệu chứng trĩ trong vòng 4 năm sau khi chích xơ.

Đốt lạnh

Đốt lạnh được khuyến cáo sử dụng cho các búi trĩ nội giãn to.Các nghiên cứu ban đầu cho những kết quả đáng khích lệ; tuy nhiên, thủ thuật tương đối mất thời gian, và các nghiên cứu sau đó cho những kết quả không tốt. Smith và cộng sự thực hiện nghiên cứu so sánh đốt lạnh và cắt trĩ kín trên nhiều loại trĩ khác nhau trên cùng một bệnh nhân. Đau kéo dài ở vị trí đốt lạnh, xuất tiết chất dịch có mùi hôi, cần thiết các phương pháp điều trị bổ sung. Hiện nay đốt lạnh ít được sử dụng để điều trị cho bệnh nhân bệnh trĩ.

Thắt dây thun

Thắt dây thun để cột toàn bộ phần thừa của niêm mạc, mô liên kết, và mạch máu ở búi trĩ. Vòng cột phải cao (ít nhất 2cm) trên đường lược. Nếu chỗ thắt quá gần đường lược sẽ gây đau ngay sau thắt và thường  là dữ dội, vì có sự hiện diện của các đầu thần kinh cảm giác bản thể mà ở vùng chuyển tiếp hậu môn không có. Thắt dây thun có thể được thực hiện tại phòng mạch với nhiều dụng cụ hiện có trên thị trường, có cả những dụng cụ có máy hút để hút phần mô thừa vào trong kềm đặt dây thun chỉ cần một người là có thể thực hiện được. Thủ thuật không cần vô cảm. Sẹo sau thắt giúp cố định mô liên kết vào thành trực tràng và búi trĩ không còn sa. Dụng cụ thắt tĩnh mạch giãn qua nội soi cũng có hiệu quả trong thắt trĩ. Thắt dây thun  thường được sử dụng cho trĩ độ 1,2 và 3.

Một số tác giả đề nghị sử dụng cho trĩ độ 4 sau phẫu thuật làm giảm sa các búi trĩ sa kẹt. Có thể thắt từ 1 đến 3 búi trĩ trong một lần thực hiện thủ thuật, mặc dù một số tác giả chỉ giới hạn điều trị cho 1 hay 2 búi trĩ trong một lần thắt. Cũng như các thủ thuật khác thắt dây thun không chỉ định cho trĩ ngoại. Kết quả điều trị thay đổi phụ thuộc vào độ trĩ, thời gian theo dõi, và tiêu chí khỏi bệnh.

Wrobleski và cộng sự báo cáo khoảng 80% có kết quả và 69% bệnh nhân không có triệu chứng trong vòng 5 năm. Steinberg và cộng sự báo cáo 89% bệnh nhân hài lòng với thời gian theo dõi tương tự. Nhưng chỉ có khoảng 44% bệnh nhân không tái phát triệu chứng. Tỷ lệ tái phát có thể cao đến 68% trong vòng 4-5 năm theo dõi, tuy nhiên triệu chứng vẫn có thể điều trị bằng cách thắt lại; chỉ có 10% bệnh nhân cần điều trị bằng phẫu thuật.

Biến chứng thương gặp nhất của thắt dây thun là đau, đau gặp trong khoảng 5-60% bệnh nhân được điều trị. Đau sau thắt thường nhẹ và có thể điều trị bằng cách ngâm nước nóng và các thuốc giảm đau thông thường. Các biến chứng khác như áp xe, tiểu khó, tụt vòng cao su, sa và huyết khối của búi trĩ kế bên, chảy máu ít do loét dưới 5%. Chảy máu nhiều cần phải can thiệp do tróc mày chỗ thắt thường xảy ra sau điều trị từ 1 đến 2 tuần. Nhiễm trùng vùng chậu hoại tử là biến chứng hiếm gặp trong thắt dây thun. Tam chứng thường gặp là đau, sốt và tiểu khó. Nhiều bệnh nhân cần phải thăm khám với gây mê, và cắt lọc tất cả mô hoại tử. Nguy cơ nhiễm trùng vùng chậu hoại tử cao ở những bệnh nhân AIDS, giảm bạch cầu và đái tháo đường nặng.

(BỆNH VIỆN MINH ANH)


Tin tức khác?

KỶ NGUYÊN PHẪU THUẬT ÍT XÂM LẤN TRONG CHUYÊN NGÀNH TIM MẠCH - LỒNG NGỰC

KỶ NGUYÊN PHẪU THUẬT ÍT XÂM LẤN TRONG CHUYÊN NGÀNH TIM MẠCH - LỒNG NGỰC

Thành phố Đà Nẵng trong 3 ngày 31/5-2/6 vừa qua, đã đón tiếp hơn 200 đại biểu là...

BỆNH PHỔI TẮC NGHẼN MẠN TÍNH

BỆNH PHỔI TẮC NGHẼN MẠN TÍNH

Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD, COAD hay COLD) là một dạng bệnh lý tắc...

U TRUNG THẤT CÓ NGUY HIỂM KHÔNG ?

U TRUNG THẤT CÓ NGUY HIỂM KHÔNG ?

U trung thất là danh từ dùng để chỉ khối u có nguồn gốc và phát triển trong...

NHỮNG BỆNH LÝ LIÊN QUAN TUYẾN TIỀN LIỆT

NHỮNG BỆNH LÝ LIÊN QUAN TUYẾN TIỀN LIỆT

Phần lớn nam giới ở độ tuổi 50 hoặc cao hơn có bệnh lý liên quan đến tuyến tiền...

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây