NHỮNG ĐIỀU CẦN BIẾT VỀ UNG THƯ VÚ

17/08/2021
Theo tổ chức y tế Thế Giới ước tính có khoảng 1.200.000 người mắc căn bệnh này trong năm 2005, trong đó có 270.000 trường hợp mới

   

     Các tác nhân gây nguy cơ ung thư vú:

Theo tổ chức y tế Thế Giới ước tính có khoảng 1.200.000 người mắc căn bệnh này trong năm 2005, trong đó có 270.000 trường hợp mới. Nguy cơ ung thư vú ngày càng nhiều nhưng đáng tiếc lại thường được chẩn đoán muộn dẫn đến nhiều hậu quả nghiêm trọng. thông thường, bệnh nhân phải chịu một cuộc phẫu thuật mang tính tàn phá (đoạn nhũ), đồng thời ung thư thường đã lan tràn đến những bộ phận khác trong cơ thể như xương, gan, phổi và não làm cho việc điều trị trở nên khó khăn.

Ung thư vú có thể phát hiện ở giai đoạn sớm và khi đó, chúng ta có thể hạn chế được mức độ tàn phá của phẫu thuật (cho phép bảo tồn tuyến vú), tiên lượng bệnh tốt hơn và khả năng chữa khỏi bệnh cao hơn.

Ung thư vú rất hiếm gặp ở nam giới, thường gặp nhất ở phụ nữ và nguy cơ mắc bệnh tăng dần theo tuổi tác. Dưới 10% ung thư vú xảy ra trước tuổi 40, 25% xảy ra trước tuổi 50 và 50% xảy ra sau 65 tuổi.


Đa số các trường hợp ung thư vú đều do chị em phụ nữ tự phát hiện.

Khoa học vẫn chưa xác định chính xác các nguyên nhân gây ra ung thư vú nhưng người ta có thể xác định một vài tác nhân nguy cơ.

Tiền căn thai sản:

Phụ nữ chưa sinh đẻ, hoặc mang thai lần đầu sau 30 tuổi có nguy cơ bị ung thư vú gấp đôi so với phụ nữ có ít nhất một con trước 30 tuổi.

Tiền căn phơi nhiễm bức xạ vùng ngực:

Trước đây, vào thời kỳ mà bệnh lao phổi còn là gánh nặng số 1 thì nhiễm bức xạ thường xảy ra với phụ nữ bị chụp X-quang phổi nhiều lần.

Hiện tượng này cũng được ghi nhận là xảy ra với các phụ nữ Nhật bị nhiễm phóng xạ trong thảm họa bom nguyên tử ở Hiroshima và Nagasaki. Ngày nay, tác nhân này rất hiếm gặp, nhưng chúng ta cần phải thận trong với những tình huống phơi nhiễm bức xạ không cần thiết trong y khoa.

Những bệnh lý tuyến vú lành tính:

Một vài bệnh lý tuyến vú lành tính có xu hướng trở thành ung thư nhiều hơn các loại bệnh lý tuyến vú lành tính khác. Do vậy, chúng ta nên khám định kỳ để được các bác sĩ theo dõi và họ sẽ đề nghị các bạn nên phẫu thuật khi cần thiết để phòng ngừa bệnh.

Chế độ ăn uống và bệnh béo phì:

Số lượng calori đưa vào cơ thể càng cao thì nguy cơ càng gia tăng. Tuy chỉ ở một mức độ tương đối khiêm tốn nhưng những người có chế độ ăn nhiều calori có nguy cơ mắc bệnh vẫn gấp 1,5 đến 2 lần người bình thường. ngoài ra, bệnh béo phì, hay gặp ở những lọai ung thư xuất hiện sau mãn kinh, và một số tác nhân khác như thói quen hút thuốc, chế độ ăn ít trái cây, ít rau củ, cũng có khả năng làm tăng nguy cơ mắc bệnh.

Các phương pháp trị liệu bằng nội tiết tố:

Các phương pháp trị liệu nội tiết tố (được chỉ định để ngừa thai hay điều trị thay thế trong giai đoạn mãn kinh) không làm gia tăng nguy cơ ung thư vú. Tuy nhiên, những phụ nữ được điều trị bằng các liệu pháp nội tiết phải được theo dõi sát sao bởi các bác sĩ của họ, điều này cho phép chẩn đoán sớm ung thư vú.

Các nguy cơ có tính chất gia đình:

Di truyền: Khoảng từ 5% đến 6% các trường hợp là do có sự di truyền của một gen bất thường, gọi là gen đột biến. Nếu được di truyền gen đột biến thì khoảng 70-80% sẽ bị ung thư vú về sau. Còn nếu không nhận gen bất thường di truyền từ các thế hệ trước thì nguy cơ mắc bệnh của họ cũng như mọi phụ nữ bình thường khác. Theo nguyên tắc chung, các ung thư sẽ xuất hiện vào giai đoạn đầu của cuộc sống (có thể xác minh bằng xét nghiệm gen) nên nếu xảy ra trường hợp này, những người trong dòng họ phải trở thành đối tượng được theo dõi đặc biệt.

Môi trường sống trong gia đình:

Có những gia đình có nhiều người bị ung thư vú, nhưng không tìm được tác nhân có di truyền. Điều này được lý giải là do sống chung trong một môi trường nên vô tình họ có cùng những tác nhân nguy cơ: ít sinh đẻ, có khuynh hướng bị bệnh lý tuyến vú lành tính, bệnh béo phì, v.v… Trong các gia đình này, nguy cơ mắc bệnh tăng gấp 2 đến 3 lần. Những chấn thương tâm lý nghiêm trọng (tang chế chẳng hạn) cũng có thể là một tác nhân nguy cơ làm phát triển ung thư vú.

Trong đa số các trường hợp, triệu chứng thường gặp của ung thư vú là một khối bướu mà chúng ta có thể sờ nắn được khi có kính thước khoảng từ 1cm trở lên, thường không đau.

Nhưng cần lưu ý bất kỳ dấu hiệu bất thường nào dù chúng mới xuất hiện:

-         Tiết dịch núm vú, nhất là khi có lẫn máu hoặc có màu hơi đen.

-         Một tổn thương dạng chàm của núm vú, núm vú trở nên đỏ, đóng vảy hoặc loét khuyết.


-         Một biến dạng của núm vú làm nó thụt vào trong.

-         Một vết lõm hoặc một nếp nhăn kéo lõm bề mặt của tuyến vú.

-         Một tổn thương dạng “da cam” của tuyến vú.

-         Tất cả những dấu hiệu trên không phải chỉ gặp ở ung thư, mà còn thấy ở các trường hơp tổn thương lành tính dạng bướu đặc (như bướu lành sợi – tuyến vú), hoặc dạng nang ( như các nang lành tính của tuyến vú).

Khi nhận thấy bất cứ một dấu hiệu nào trên đây thì bắt buộc phải đi khám bệnh ngay không được chậm trễ. Bác sĩ sẽ quyết định những xét nghiệm bổ sung cần thiết.

Vào thời điểm hiện nay, những hiểu biết của chúng ta về các tác nhân nguy cơ còn giới hạn, khó có thể ngăn chặn xuất hiện ung thư vú.

Tuy nhiên chúng ta có thể phát hiện ung thư khi nó còn rất nhỏ nhờ vào phương pháp tự khám vú. Nếu người phụ nữ được hướng dẫn tự khám vú đúng phương pháp thì họ có thể tự phát hiện bệnh khá sớm khi bướu còn nhỏ khoảng 1cm. Nên nhớ rằng đa số các trường hợp ung thư vú đều do chị em phụ nữ tự phát hiện.

Chúng ta có thể phát hiện bệnh ở giai đoạn sớm hơn nữa (thậm chí dưới 1cm đường kính) nhờ chụp nhũ ảnh khi thăm khám sức khỏe định kỳ. Nhờ đó, cơ may chữa khởi bệnh được gia tăng, đồng thời các phương pháp điều trị ít tàn phá hơn (ít dùng phẫu thuật đoạn nhũ, ít sử dụng đến hóa trị).

Tầm soát ung thư là truy tìm bằng một số phương pháp đặc biệt khi ung thư còn trong giai đoạn “nín lặng”, có nghĩa là dù đã hiện hữu nhưng bề ngoài hoàn toàn chưa có dấu hiệu gì cả. Một số ung thư có thể nhìn thấy được trên phim chụp nhũ ảnh, thậm chí ngay cả trước khi có triệu chứng. Điều này cho thấy tầm quan trọng của việc chụp nhũ ảnh (mỗi năm một lần hay ít nhất hai năm một lần) ở tất cả các phụ nữ có nguy cơ bị ung thư vú và đặc biệt ở tất cả các phụ nữ trên 40 tuổi.

Chụp nhũ ảnh có thể được chỉ định bởi một bác sĩ đa khoa hay phụ khoa, luôn luôn được thực hiện sau khi khám lâm sàng và phải được thực hiện bởi một bác sĩ X-quang có kinh nghiệm. Kết quả của nhiều cuộc nghiên cứu đã khẳng định chương trình tầm soát đã góp phần làm giảm tỉ lệ tử vong do ung thư vú khoảng 30% ở những phụ nữ tham gia chương trình tầm soát so với những phụ nữ không tham gia chương trình này.

Chụp nhũ ảnh là phương pháp chụp X-quang căn bản cho phép phân tích cấu trúc của tuyến vú. Chụp nhũ ảnh được chỉ định khi có bất kỳ dấu hiệu lâm sàng bất thường. Đặc biệt, khi kết hợp chụp nhũ ảnh với siêu âm sẽ cho phép nhận ra ngay các nang tuyến vú.

Siêu âm chỉ có vai trò bổ sung, không thay thế được chụp nhũ ảnh. Siêu âm có thể giúp định vị tổn thương bất thường để dễ lấy mẫu bệnh phẩm, hoặc xác định một dạng tổn thương dạng nang.

Khi có một tổn thương dạng nang, việc chọc hút bằng kim nhỏ có thể rút cạn dịch trong nang và chữa khỏi bệnh. Đây là thao tác đơn giản, không gây đau, không cần gây tê tại chỗ. Nếu là khối bướu đặc, có thể chọc hút bằng kim nhỏ để lấy các tế bào đem đi khảo sát bằng kính hiển vi. Đây là chẩn đoán tế bào học.

 

Ung thư vú là một loại ung thư thường xảy ra, có thể chẩn đoán sớm và điều trị khỏi.

Nếu các triệu chứng lâm sàng và các xét nghiệm này không cho phép khẳng định tổn thương hoàn toàn lành tính thì nhất thiết phải đề nghị lấy mẫu bệnh phẩm qua sinh thiết hay phẫu thuật để chẩn đoán xác định. Các kỹ thuật lấy mẫu bệnh phẩm một khối bướu đã được hoàn thiện (sinh thiết dưới hướng dẫn của siêu âm) và được thực hiện dưới gây tê tại chỗ, không cần nằm viện.

Kích thước và vị trí của bướu, tình trạng các hạch, loại mô học và mức độ ác tính của các tế bào (được đánh giá bằng thang mức độ), mức độ nhạy cảm đối với các nội tiết tố được tiết ra từ buồng trứng (tính phụ thuộc nội tiết) được đánh giá bằng sự hiện diện của những thụ thể nôi tiết, những tổn thương thứ phát (di căn) và một số thông số khác.

Phẫu thuật

Phẫu thuật đóng vai trò chính trong điều trị ung thư vú.

Khi ung thư vú được phát hiện sớm, tổn thương còn rất nhỏ, chúng ta có thể bảo tồn tuyến vú bằng cách chỉ cắt rộng bướu và điều trị hỗ trợ bằng xạ trị.

Trong tất cả các trường hợp, bệnh nhân phải được phẫu thuật nạo hạch nách cùng bên với bướu vú. Kỹ thuật nạo hạch cũng ngày càng được cải thiện, mức độ cắt bỏ mô mỡ - hạch vùng nách được hạn chế hơn trước góp phần giảm thiểu những biến chứng và trong phần lớn các trường hợp tránh nguy cơ bị sưng phù cánh tay. Bệnh nhân có thể sống bình thường và có thể tham gia một số hoạt động thể thao thích hợp.

Sự cần thiết của phẫu thuật đoạn nhũ không phải luôn luôn liên quan đến sự nghiệm trọng của căn bệnh, có thể do vị trí ung thư hoặc do sự lan rộng của khối bướu trong những ống dẫn sữa khác nhau. Đôi khi, cần phải phẫu thuật đoạn nhũ vì có tổn thương ở nhiều vị trí trong cùng một tuyến vú nhưng điều đó không hoàn toàn đồng nghĩa với sự nghiêm trọng của bệnh.

Điều trị hỗ trợ

Xạ trị là môt phương pháp điều trị hỗ trợ quan trọng nhất và bắt buộc trong đa số các ung thư vú.

Quy trình xạ trị được thực hiện bằng máy gia tốc tuyến tính cho phép gia tăng hiệu quả điều trị và giảm thiểu những tác dụng phụ.

Nội tiết tố liệu pháp thường được sử dụng dưới dạng thuốc viên, hiếm khi sủ dụng thuốc tiêm, được chỉ định trong những trường hợp ung thư phụ thuộc nội tiết vì chỉ trong những trường hợp này mới có đáp ứng nội tiết. Việc điều trị rất dễ dung nạp vì hầu như không có tác dụng phụ.

Hóa trị có thể được sử dụng khi cần thiết: chủ yếu qua đường tiêm truyền một hoặc hai lần mỗi tháng và trung bình trong vòng 6 tháng. Những tác dụng phụ của hóa trị (thường gặp là mệt mỏi, buồn nôn, rụng tóc tạm thời) tùy thuộc vào loại thuốc sử dụng, và ngày càng được kiểm soát tốt hơn.

Giai đoạn sau điều trị

Sau khi đã điều trị, bệnh nhân phải được theo dõi thường xuyên. Nếu như việc tiến hành nhiều lần các xét nghiệm thực sự không cần thiết, thì việc chụp nhũ ảnh hàng năm là tối cần thiết. Chụp nhũ ảnh sẽ được kết hợp với các xét nghiệm khác sẽ được chỉ định tùy theo từng trường hợp cụ thể.

Việc trở lại cuộc sống xã hội là công việc rất quan trọng. Đôi khi cần cân nhắc việc thay đổi nghề nghiệp nếu cần thiết, đặc biệt trong các nghề lao lực. Bệnh nhân vẫn có thể sinh hoạt thể thao nhưng nên theo lời khuyên của bác sĩ.

Phương pháp tối ưu tại Bệnh viện Minh Anh

Tại bệnh viện Minh Anh, các phương pháp tiên tiến nhất để chữa trị ung thư vú sẽ được đề xuất với bệnh nhân: phẫu thuật bảo tồn (cắt bỏ khối bướu) khi có thể, phẫu thuật tái tạo tuyến vú trong các trường hợp đoạn nhũ, hóa trị với các thuốc mới nhất và được truyền qua buồng tiêm, xạ trị bằng máy gia tốc tuyến tính, nội tiết tố liệu pháp.

Quyết định điều trị là kết quả hội chẩn liên chuyên khoa về Ung bướu được thực hiện đều đặn hàng tuần trong Bệnh viện Minh Anh.

Phụ nữ trên 40 tuổi nên tự khám vú và chụp nhũ ảnh để tầm soát ung thư vú.

(BỆNH VIỆN MINH ANH)

Tin tức khác?

KỶ NGUYÊN PHẪU THUẬT ÍT XÂM LẤN TRONG CHUYÊN NGÀNH TIM MẠCH - LỒNG NGỰC

KỶ NGUYÊN PHẪU THUẬT ÍT XÂM LẤN TRONG CHUYÊN NGÀNH TIM MẠCH - LỒNG NGỰC

Thành phố Đà Nẵng trong 3 ngày 31/5-2/6 vừa qua, đã đón tiếp hơn 200 đại biểu là...

BỆNH PHỔI TẮC NGHẼN MẠN TÍNH

BỆNH PHỔI TẮC NGHẼN MẠN TÍNH

Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD, COAD hay COLD) là một dạng bệnh lý tắc...

U TRUNG THẤT CÓ NGUY HIỂM KHÔNG ?

U TRUNG THẤT CÓ NGUY HIỂM KHÔNG ?

U trung thất là danh từ dùng để chỉ khối u có nguồn gốc và phát triển trong...

NHỮNG BỆNH LÝ LIÊN QUAN TUYẾN TIỀN LIỆT

NHỮNG BỆNH LÝ LIÊN QUAN TUYẾN TIỀN LIỆT

Phần lớn nam giới ở độ tuổi 50 hoặc cao hơn có bệnh lý liên quan đến tuyến tiền...

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây