NHỮNG ĐIỀU CẦN BIẾT VỀ UNG THƯ GAN

17/08/2021
Ung thư gan thường nguy hiểm và đe dọa đến tính mạng của người bệnh. Tế bào ung thư xâm lấn và gây tổn thương đến các mô hay cơ quan gần đó.

CÁC DẠNG UNG THƯ GAN

Các khối u trong gan có thể lành tính (không phải ung thư) hoặc ác tính (ung thư).

Ung thư gan thường nguy hiểm và đe dọa đến tính mạng của người bệnh. Tế bào ung thư xâm lấn và gây tổn thương đến các mô hay cơ quan gần đó. Ngoài ra, tế bào ung thư còn có thể tách ra khỏi khối u ác tính để xâm nhập vào máu hay hệ bạch huyết. Đây là quá trình di căn, tế bào ung thư lan ra từ khối u nguyên phát để tạo thành các khối u thứ phát. Trẻ em đang phát triển có thể mắc một dạng ung thư gan riêng, gọi là u nguyên bào gan.

Khi ung thư gan lan tràn (di căn) ra khỏi gan, tế bào ung thư có xu hướng lan đến các hạch lân cận hoặc đến xương và phổi.

Khi ung thư ở một cơ quan khác (chẳng hạn ung thư dạ dày, phổi, vú) di căn đến gan, các bác sĩ gọi khối ung thư này là ung thư gan thứ phát.

Hiện nay, khoa học vẫn chưa chẩn đoán chính xác nguyên nhân gây ung thư gan. Tuy nhiên, với những người có một trong các yếu tố nguy cơ sau đây sẽ dễ mắc ung thư gan hơn so với những người khác. Yếu tố nguy cơ là làm tăng khả năng mắc một căn bệnh nào đó.

Các yếu tố nguy cơ của ung thư gan bao gồm:

Viêm gan mãn tính: Viêm gan mãn tính do virus (siêu vi), như viêm gan siêu vi B, hay viêm gan siêu vi C. Các vi rút gây viêm gan này có thể lây từ người này sang người khác qua đường máu (chẳng hạn: dùng chung kim tiêm), hoặc qua đường tình dục. Trẻ sơ sinh có thể bị nhiễm virus này từ mẹ, nếu nguời mẹ đã bị nhiễm trước đó. Sau nhiều năm bị nhiễm virus gây viêm gan, người bệnh có thể mắc ung thư gan.

Xơ gan: Xơ gan xuất hiện do nhiều nguyên nhân, có thể là vì uống quá nhiều rượu, do thuốc, hóa chất, virus hay ký sinh trùng.

Độc tố aflatoxin: Đây là độc tố do một loại nấm tiết ra. Nấm này thường xuất hiện ở các loại nông phẩm bị mốc như: đậu phộng, bắp, các loại quả hạch và ngũ cốc nói chung.

Giới tính: nam có khả năng mắc ung thư gan nhiều gấp 2 lần so với nữ .

Tiền sử gia đình: Nếu trong gia đình đã có người mắc bệnh ung thư gan thì sẽ tăng khả năng nguy cơ  bị ung thư gan.

Tuổi: Ở Hoa Kỳ thường thấy xuất hiện ở người trên 60 tuổi so với người trẻ tuổi.

Nếu có nhiều yếu tố nguy cơ thì nguy cơ mắc bệnh ung thư càng tăng. Tuy nhiên có nhiều người có những yếu tố nguy cơ nhưng lại không mắc bệnh ung thư gan. Nếu bạn nghi ngờ mình có nguy cơ nào đó nên đi khám bác sĩ để kiểm tra chính xác hơn.

Ung thư gan còn được gọi là “căn bênh thầm lặng”. Vì ở giai đoạn đầu, bệnh thường không có một triệu chứng nào cả. Tuy nhiên, khi khối u đã phát triển thì người bệnh có thể xuất hiện các triệu chứng sau:

-         Đau ở phía trên bên phải của bụng. Đau bụng có thể lan ra sau lưng hoặc lan lên vai.

-         Bụng chướng to

-         Sụt cân

-         Chán ăn, đau và thường có cảm giác đầy bụng

-         Thể trạng yếu hoặc có cảm giác mệt mỏi

-         Buồn nôn và nôn

-         Vàng da, vàng mắt, nước tiểu có màu vàng sậm

-         Sốt cao

Tuy nhiên, các triệu chứng trên cũng chưa phải là dấu hiệu chắc chắn để khẳng định đó là ung thư gan. Bởi có nhiều bệnh khác của gan hoặc các vấn đề về sức khỏe khác cũng có thể gây ra các triệu chứng tương tự như vậy. Thế nên khi xuất hiện các triệu chứng trên, chúng ta cần phải đi khám ngay vì chỉ có bác sĩ mới có thể xác định chính xác nguyên nhân gây bệnh và có phương pháp điều trị thích hợp nhất.

Khi bênh nhân có những triệu chứng nghi ngờ là ung thư gan, bác sĩ sẽ tiến hành các khảo sát sau:

Khám lâm sàng: Bác sĩ sẽ khám vùng bụng của bệnh nhân để đánh giá tình trạng gan, lách và các cơ quan khác, đồng thời cũng kiểm tra xem bệnh nhân có tràn dịch màng bụng hay không. Bác sĩ còn khám da, mắt để tìm các dấu hiệu của chứng vàng da.

Xét nghiệm máu: Có nhiều loại xét nghiệm máu cần thức hiện đối với bệnh nhân để xác định chính xác nguyên nhân gây bệnh. Nồng độ chất AFP (alpha-fetoprotein) tăng cao có thể là dấu hiệu của ung thư gan.

-         Chụp CT scan

-         Siêu âm bụng

-         Chụp MRI (cộng hưởng từ hạt nhân)

-         Chụp mạch máu

-         Sinh thiết gan

Khi đã chẩn đoán là ung thư gan, bác sĩ cần xác định giai đoạn hoặc mức độ lan tràn của bệnh để có thể lên kế hoạch điều trị  một cách tốt nhất. Điều này bao gồm việc đánh giá kích thước khối u, kiểm tra xem nó đã lan tràn chưa, và nếu có thì đã ăn lan đến những bộ phận nào của cơ thể. Xác định chính xác tình trạng của bệnh nhân sẽ giúp bác sĩ quyết định hướng xử trí.

Hiện nay, ung thư gan chỉ có thể chữa khỏi nếu được phát hiện ở giai đoạn sớm (khối u chưa lan tràn sang các bộ phận khác của cơ thể), nhưng với điều kiện là tình trạng sức khỏe của bệnh nhân tương đối tốt, còn đủ sức để chịu đựng để phẫu thuật cắt gan. Tuy nhiên, ngoài phẫu thuật còn có những biện pháp khác có thể kiểm soát được căn bệnh này, giúp tăng thời gan sông thêm và làm cho bệnh nhân cảm thấy khỏe hơn.

Khi không thể chữa khỏi bệnh, hoặc không thể kiểm soát được bệnh, một số bệnh nhân và bác sĩ đã chọn phương cách điều trị triệu chứng, nhắm cải thiện sức khỏe của người bệnh bằng cách giảm đau và giải quyết các biến chứng do ung thư gây ra chứ không thể chữa khỏi hoàn toàn căn bệnh này.

Chọn phương pháp điều trị

Việc chọn phương pháp điều trị tùy thuộc vào tình trạng của gan; vào số lượng, kích thước, cũng như vị trí của khối u và mức độ lan tràn của nó đến các cơ quan khác trong cơ thể. Các yếu tố khác cũng cần phải xem xét là độ tuổi và sức khỏe tổng quát của bệnh nhân, những vấn đề về điều trị, các tác dụng phụ có thể có và ý nguyện cá nhân bệnh nhân.

Thông thường, yếu tố quan trọng nhất trong quá trình điều trị là đánh giá giai đoạn bệnh. Giai đoạn bệnh tùy thuộc vào kích thước của bướu, tình trạng của gan và tình trạng lan tràn của ung thư.

Ung thư gan khu trú có thể cắt bỏ được

-         Khi đó có thể tiến hành cắt bỏ một phần gan.

-         Trong một số trường hợp, có thể được chỉ định ghép gan.

Ung thư gan khu trú nhưng không thể cắt bỏ được.

Phẫu thuật cắt khối u ở gan không thể tiến hành nếu người bệnh đang bị xơ gan hay gặp các tình trạng khác như chức năng của gan quá yếu, khối u ở vị trí không thể cắt bỏ được, hoặc các vấn đề sức khỏe khác.

Đối với những trường hợp trên, bác sĩ có thể chọn cách điều trị khác để kiểm soát bệnh và kéo dài thời gian sống cho bệnh nhân theo các phương pháp sau:

-         Phá ung thư gan bằng sóng radio (RFA: Radiofrequency ablation).

-         Tiêm cồn vào khối u ở gan

-         Phẫu thuật lạnh.

-         Truyền hóa chất qua động mạch gan vào khối u.

-         Thuyên tắc mạch máu nuôi khối u bằng hóa chất.

Bác sĩ có thể quyết định cắt bỏ toàn bộ gan, sau đó ghép gan. Trong thời gian chờ có người cho gan thì bệnh nhân sẽ được chăm sóc và điều trị bằng những phương pháp khác nếu cần.

Ung thư gan giai đoạn phát triển

Trong giai đoạn này, ung thư đã có ở cả hai thùy của gan, hoặc đã lan tràn đến những bộ phận khác của cơ thể. Tuy ung thư gan đến giai đoạn này không còn khả năng chữa khỏi, song nhiều bệnh nhân vẫn được chỉ định dùng thuốc chống ung thư với mục đích làm chậm diễn tiến của bệnh. Một số bệnh nhân sau khi cân nhắc giữa lợi ích và tác dụng phụ của việc điều trị, có thể quyết định không điều trị bằng hóa trị và chỉ cần các biện pháp chăm sóc nhằm giảm nhẹ triệu chứng và giảm đau.

Các phương pháp được sử dụng trong chữa trị ung thư gan gồm:

-         Hóa trị: Có thể sử dụng phương pháp làm thuyên tắc mạch máu nuôi khối u bằng hóa chất, hoặc truyền hóa chất qua động mạch gan. Ngoài ra, bác sĩ cũng có thể chỉ định phương pháp hóa trị toàn thân.

-         Xạ trị: Xạ trị chỉ có tác dụng điều trị tại chỗ đối với một số trường hợp ung thư gan.

Ung thư gan tái phát

Đa số ung thư gan có thể tái phát trong vòng 2 năm sau khi đã được điều trị. Khi đó người bệnh có thể phẫu thuật lại hoặc dùng các phương pháp điều trị phối hợp.

TÁC DỤNG PHỤ CỦA QUÁ TRÌNH ĐIỀU TRỊ

Phẫu thuật

Sau khi phẫu thuật, bệnh nhân cần có thời gian để lành vết thương. Thời gian này không giống nhau đối với từng bệnh nhân. Những ngày đầu sau phẫu thuật, bệnh nhân có thể cảm thấy mệt mỏi, yếu và đau nhiều. Thuốc giảm đau sẽ giúp bệnh nhân kiểm soát được tình trạng này. Ngoài ra, bệnh nhân có thể bị tiêu chảy và có cảm giác đầy bụng. Các bác sĩ sẽ theo dõi các dấu hiệu của bệnh nhân như: chảy máu, nhiễm trùng, suy gan, hoặc các tình trạng cần cấp cứu khác để có phương pháp điều trị kịp thời.

Trong trường hợp ghép gan, sau khi mổ, bác sĩ sẽ phải theo dõi sát các dấu hiệu chứng tỏ cơ thể của bệnh nhân đã chấp nhận lá gan mới hay chưa. Bệnh nhân cần sử dụng nhiều loại thuốc để ngăn ngừa hiện tượng thải ghép (là hiện tượng cơ thể có phản ứng loại bỏ lá gan mới ghép vào). Tác dụng phụ của những loại thuốc này có thể là sưng vùng mặt, tăng huyết áp và rậm lông.

Phẫu thuật lạnh

Sau phẫu thuật lạnh, cơ thể bệnh nhân thường phục hồi nhanh và ít đau hơn so với phẫu thuật thông thường.

Tiêm cồn vào khối u ở gan

Sau khi tiêm cồn vào khối u, bệnh nhân có thể đau nhẹ và sốt.

Làm thuyên tắc mạch máu nuôi khối u và truyền hóa chất qua động mạch gan vào khối u.

-         Hai phương pháp này ít gây tác dụng phụ hơn so với phương pháp hóa trị toàn thân, vì thuốc không truyền qua toàn bộ cơ thể. Thuyên tắc mạch máu nuôi bướu đôi khi khiến cho bệnh nhân bồn nôn, nôn, sốt và đau bụng.

-         Bác sĩ có thể chỉ định dùng thuốc hỗ trợ nhằm giảm nhẹ các triệu chứng này.

-         Tác dụng phụ của việc truyền hóa chất qua động mạch gan vào khối u thường là nhiễm trùng và các vấn đề khác có liên quan đến dụng cụ bơm thuốc

Hóa trị toàn thân.

Tác dụng phụ của hóa trị toàn thân tùy thuộc chủ yếu vào loại thuốc và liều dùng. Hóa trị toàn thân không những tác động đến tế bào ung thư mà còn ảnh hưởng đến các tế bào phân chia nhanh của cơ thể như tế bào máu, nang tóc…. Khi tế bào máu bị tổn thương, người bệnh dễ bị nhiễm trùng, bầm ngoài da, chảy máu và thường cảm thấy thiếu sức sống. Hóa chất ảnh hưởng lên tế bào nang tóc nên khiến cho bệnh nhân bị rụng tóc. Hóa chất ảnh hưởng lên tế bào nang tóc nên khiến cho bệnh nhân bị rụng tóc. Nó còn tác động lên tế bào lót ở niêm mạc đường tiêu hóa, khiến bệnh nhân bị mất khẩu vị, bồn nôn, nôn và viêm nhẹ.

Điều trị hỗ trợ sẽ giúp bệnh nhân giảm các tác dụng phụ và cải thiện chất lượng cuộc sống.

Những tác dụng phụ này sẽ mất dần trong giai đoạn phục hồi giữa các đợt điều trị, hoặc sau khi chấm dứt điều trị.

Xạ trị

Tác dụng phụ của xạ trị tùy thuộc chủ yếu vào liều dùng và bộ phận cơ thể được xạ trị. Bệnh nhân thường cảm thấy mệt mỏi trong đợt xạ trị, nhất là vào những tuần sau cùng. Nghỉ ngơi rất quan trọng đối với người bệnh trong thời gian này, song cũng nên cố gắng duy trì khả năng vận động tích cực tùy theo thể trạng của mình.

Xạ trị vào ngực và bụng có thể gây buồn nôn, nôn, tiêu chảy và rối loạn đường tiết niệu. Xạ trị cũng có thể làm giảm số lượng các tế bào bạch cầu. Cũng giống như đối với hóa trị, điều trị hỗ trợ sẽ giúp bệnh nhân giảm nhẹ các tác dụng phụ.

KIỂM SOÁT ĐAU

Đau là vấn đề thường gặp trong ung thư gan. Sau đây là những cách nhằm kiểm soát trạng thái này:

-      Dùng thuốc: Có nhiều loại thuốc giúp giảm đau cho bệnh nhân ung thư gan. Các loại thuốc này có thể khiến bệnh nhân cảm thấy buồn ngủ, táo bón nhưng nếu nghỉ ngơi đầy đủ và dùng thuốc nhuận trường thì có thể cải thiện được tình trạng này.

-         Xạ trị: Các tia năng lượng cao có thể giúp giảm đau bằng cách làm cho khối u teo nhỏ lại.

-         Gây tê vùng: Có thể tiêm cồn vào khu vực quanh các dây thần kinh ở vùng bụng để làm nghẽn đường dẫn truyền cảm giác đau.

Các bác sĩ cũng có thể đề nghị nhiều biện pháp khác giúp bệnh nhân giảm đau, chẳng hạn: thuốc giảm đau, thảo dược, thực phẩm chức năng, xoa bóp, châm cứu hoặc bấm huyệt. Ngoài ra, bệnh nhân cũng nên học các cách giảm đau bằng những kỹ thuật thư giãn như: nghe nhạc nhẹ hoặc luyện thở theo cách thiền.

TẠI SAO PHẢI CHÚ Ý ĐẾN DINH DƯỠNG?

Bệnh nhân bị ung thư không thể ăn uống bình thường do nhiều nguyên nhân: Tình trạng tâm lý không ổn định, tác dụng phụ của các phương pháp trị liệu làm người bệnh chán ăn, buồn nôn, nôn ói, khô miệng, giảm tiêu hóa và khả năng hấp thụ thức ăn… Do vậy, đa phần bệnh nhân ung thư mắc hội chứng suy mòn. Hội chứng này biểu hiện bằng việc người bệnh giảm cân, teo các cơ bắp, thiếu máu và thay đổi các chuyển hóa trong cơ thể. Bệnh nhân bị đánh giá là suy dinh dưỡng khi cân nặng giảm trên 1kg mỗi tuần hay giảm trên 10% so với trọng lượng cơ thể trước khi bị bệnh. Tình trạng này gây trở ngại cho quá trình điều trị bệnh vì cơ thể sẽ giảm khả năng dung nạp thuốc, chậm phục hồi các tổn thương và tăng nguy cơ nhiễm trùng. Khi bị suy kiệt, chất lượng sống của người bệnh cũng bị giảm đáng kể.

THẾ NÀO LÀ MỘT CHẾ ĐỘ DINH DƯỠNG ĐÚNG?

Người bệnh cần phải cố gắng ăn để có đầy đủ lượng calo nhằm hạn chế tình trạng sụt cân, duy trì sức khỏe và thúc đẩy quá trình làm lành vết mổ. Cần nhớ rằng ăn uống tốt cũng giúp bệnh nhân ung thư cảm thấy khỏe hơn và có nhiều sức sống hơn.

Các nhà dinh dưỡng khuyến cáo rằng, số bữa ăn và cách chế biến bữa ăn cho bệnh nhân càng bình thường càng tốt. Những bệnh nhân còn khả năng ăn bằng đường miệng vẫn có thể ăn chung với gia đình và ăn các món ăn ưa thích hằng ngày. Số bữa ăn trong ngày có thể thay đổi nhưng không nên dưới 4 bữa/ngày. Với những bệnh nhân biếng ăn nặng, hay buồn nôn và nôn thì cho ăn nhiều bữa nhỏ cách nhau 2-3 giờ để tránh cảm giác đầy căng ở dạ dày. Khuyến khích cho ăn bất kỳ loại thức ăn nào mà bệnh nhân yêu thích. Các thức ăn ướp lạnh thường làm cho bệnh nhân ăn dễ hơn thức ăn nóng, có thể thêm gừng vào các thức ăn để tạo thêm mùi vị dễ chịu, không gây buồn nôn. Một số người có hiện tượng thay đổi khẩu vị, cần tăng lượng muối, đường và các gi vị nêm vào thức ăn. Ngược lại, với những bệnh nhân có tình trạng viêm loét ở miệng gây đau đớn, khô miệng do giảm tiết nhầy … lại cần phải tránh những thức ăn có nhiều gia vị, thức ăn có vị chua, thức ăn cứng hay các loại nước cam, nước chanh, nước có ga. Nếu bệnh nhân thấy khó nhai, khó nuốt, các thức ăn cần được băm nhỏ, nấu nhuyễn, nhừ…


Những người có nguy cơ như nhiễm vi-rút viêm gan B hay C... nên làm siêu âm bụng mỗi 3-6 tháng để phát hiện sớm ung thư.

Nguyên tắc chung của một số chế độ ăn cho người bị ung thư là ăn đầy đủ chất bột, đường, đạm và giảm chất béo. Không ăn các thực phẩm chế biến đóng gói bao bì công nghiệp. Nên ăn nhiều thực phẩm có chất xơ như rau, trái cây, ngũ cốc còn chưa xay xát và chú ý gia tăng lượng vitamin, khoáng chất trong khẩu phần. Trong trường hợp không thể cung cấp đủ năng lượng bằng thức ăn thông thường thì sử dụng các loại thực phẩm năng lượng cao sau các bữa ăn chính hoặc dùng vào bữa phụ. Nhiều công trình nghiên cứu đã khẳng định vai trò hỗ trợ sức khỏe của một số vitamin và khoáng chất.

THEO DÕI SỨC KHỎE CỦA BỆNH NHÂN

Việc theo dõi sức khỏe đối với bệnh nhân ung thư gan tùy thuộc vào giai đoạn bệnh và phương pháp mà bệnh nhân đã được điều trị. Theo dõi, tái khám định kỳ rất quan trọng, nhất là với những người đã phẫu thuật cắt khối u ra khỏi gan. Phải tái khám định kỳ vì tế bào ung thư có thể tái lại ở gan hay một bộ phận nào đó trong cơ thể. Theo dõi sức khỏe liên tục đối với bệnh nhân có thể bao gồm cả việc làm thêm các xét nghiệm khác như xét nghiệm máu, chụp X-quang ngực, siêu âm, CT scan, chụp mạch máu.

Đối với bệnh nhân ghép gan, cần thực hiện các xét nghiệm để đánh giá chức năng của gan mới ghép vào, đồng thời phải cẩn thận theo dõi bệnh nhân nhằm đảm bảo rằng gan mới ghép vào không bị cơ thể thải ra.

Đối với bệnh nhân ung thư gan giai đoạn phát triển, các bác sĩ sẽ cố giữ cho bệnh nhân cảm thấy thoải mái và dễ chịu hơn bằng những thuốc giảm đau, trợ tiêu hóa và một số điều trị triệu chứng khác.

Để khám và tư vấn kỹ về căn bệnh này xin quý bệnh nhân hay thân nhân bệnh nhân liên hệ bệnh viện MINH ANH số 36 đường số IB – Phường Bình Trị Đông B – Quận Bình Tân.

Tin tức khác?

KỶ NGUYÊN PHẪU THUẬT ÍT XÂM LẤN TRONG CHUYÊN NGÀNH TIM MẠCH - LỒNG NGỰC

KỶ NGUYÊN PHẪU THUẬT ÍT XÂM LẤN TRONG CHUYÊN NGÀNH TIM MẠCH - LỒNG NGỰC

Thành phố Đà Nẵng trong 3 ngày 31/5-2/6 vừa qua, đã đón tiếp hơn 200 đại biểu là...

BỆNH PHỔI TẮC NGHẼN MẠN TÍNH

BỆNH PHỔI TẮC NGHẼN MẠN TÍNH

Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD, COAD hay COLD) là một dạng bệnh lý tắc...

U TRUNG THẤT CÓ NGUY HIỂM KHÔNG ?

U TRUNG THẤT CÓ NGUY HIỂM KHÔNG ?

U trung thất là danh từ dùng để chỉ khối u có nguồn gốc và phát triển trong...

NHỮNG BỆNH LÝ LIÊN QUAN TUYẾN TIỀN LIỆT

NHỮNG BỆNH LÝ LIÊN QUAN TUYẾN TIỀN LIỆT

Phần lớn nam giới ở độ tuổi 50 hoặc cao hơn có bệnh lý liên quan đến tuyến tiền...

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây