NGƯNG THỞ KHI NGỦ VÀ ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TYPE II

17/08/2021
Những phát hiện được Hội Đái tháo đường Quốc tế (IDF) thông báoNgưng thở khi ngủ và Đái tháo đường tuyp II đều liên quan đến những vấn đề sức khỏe nghiêm trọng, bao gồm Tăng huyết áp, bệnh tim và Đột quỵ. Vào tháng 6 năm 2008, Hội Đái tháo đường Quốc tế (IDF – International Diabetes Federation) kêu gọi cộng đồng Y tế có những hành động ngay trong việc thiết lập hướng dẫn điều trị cho những người Đái tháo đường tuyp II và ngưng thở tắc nghẽn khi ngủ.
 NGƯNG THỞ KHI NGỦ VÀ ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TYPE II

Những phát hiện được Hội Đái tháo đường Quốc tế (IDF) thông báo

MỐI LIÊN HỆ GIỮA NGƯNG THỞ TẮC NGHẼN KHI NGỦ VÀ ĐÁI THÁO ĐƯỜNG (ĐTĐ) TUYP II

Ngưng thở khi ngủ và Đái tháo đường tuyp II đều liên quan đến những vấn đề sức khỏe nghiêm trọng, bao gồm Tăng huyết áp, bệnh tim và Đột quỵ. Vào tháng 6 năm 2008, Hội Đái tháo đường Quốc tế (IDF – International Diabetes Federation) kêu gọi cộng đồng Y tế có những hành động ngay trong việc thiết lập hướng dẫn điều trị cho những người Đái tháo đường tuyp II và ngưng thở tắc nghẽn khi ngủ.

NGƯNG THỞ TẮC NGHẼN KHI NGỦ

Ngưng thở tắc nghẽn khi ngủ (Obstructive Sleep Apnea – OSA) là rối loạn giấc ngủ phổ biến, ảnh hưởng khoảng 5% - 7% dân số. OSA là hiện tượng lập đi lập lại khi đường thở trên bị tắc nghẽn một phần hay hoàn toàn khi ngủ. Điều này thể hiện khi luồng hơi thở giảm sút (hypopnea) hoặc mất hẳn (apnea) mặc dù vẫn có hô hấp gắng sức. Phế nang không được thông khí đầy đủ dẫn đến giảm bão hòa oxy và tăng dần CO­2. Biến cố này thường sẽ chấm dứt khi tỉnh giấc. OSA có thể đe dọa mạng sống. Người bị OSA có nguy cơ cao với một số bệnh có liên quan như huyết áp, tim mạch, béo phì và đái tháo đường tuyp II.

Người bị ngưng thở khi ngủ hiếm khi nhận biết được họ gặp khó khăn khi thở, ngay cả khi thức dậy, vì vậy ngưng thở khi ngủ thường không được tầm soát. Thông thường, người bị ngưng thở khi ngủ được người nhà lưu ý quan sát giấc ngủ. Một người có thể nghi ngờ họ bị ngưng thở khi ngủ nếu ngáy thường xuyên hoặc có những triệu chứng ảnh hưởng vào ban ngày như buồn ngủ, mệt, do giấc ngủ bị phân mảnh hoặc giấc ngủ không ngon.

Hai thông số thường được sử dụng để đo rối loạn giấc ngủ là:

- Chỉ số ngưng thở giảm thở AHI (Apnea Hypopnoea Index): số lần ngưng thở giảm thở trung bình trong 1 giờ ngủ.

- Chỉ số giảm bão hòa oxy ODI (Oxygen Desaturation Index): số giảm bão hòa oxy trung bình trong 1 giờ ngủ.

Hướng dẫn của Hội mạnh mẽ sẽ xác định nhu cầu cần thiết về:

1. Tăng cường giáo dục nhân viên Y tế và gia tăng nhận thức trong Cộng đồng Đái tháo đường và giấc ngủ về mối liên quan giữa vấn đề Đái tháo đường tuyp II và Ngưng thở tắc nghẽn khi ngủ.

2. Thông qua thực hành lâm sàng, đảm bảo một người khi đang có bệnh này thì cũng được tầm soát cả bệnh kia.

3. Nghiên cứu để hiểu rõ hơn mối tương quan giữa Đái tháo đường tuyp II và Ngưng thở tắc nghẽn khi ngủ.

LIÊN QUAN ĐẾN ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TUYP II

- 50% Bệnh nhân Đái tháo đường tuyp II bị ngưng thở tắc nghẽn khi ngủ. (Einhorn, et al insert Endocr Pract, 2007).

- Những người thường xuyên ngáy (một triệu chứng của OSA) có nguy cơ đái tháo đường tuyp II gấp đôi (Al-Dalaimy, et al AJE, 2002).

- 30% Người đến phòng xét nghiệm giấc ngủ bất dung nạp glucose, một chỉ số quan trọng của đái tháo đường tuyp II. (Meslier, et al Eur Respir J, 2003).

- OSA được thấy có kết hợp với kháng sinh insulin (punjabi et al, 2004).

- Các nghiên cứu ở đối tượng nam thanh niên mạnh khỏe cho thấy thiếu ngủ từ 2 đêm trở lên làm giảm khả năng dung nạp glucose và làm tăng nhu cầu về thự phẩm giàu carbohydrate, từ đó làm tăng hóc-môn gây đói Ghrelin. Đối tượng nghiên cứu cảm thấy thèm ăn hơn, tương đương với gia tăng thêm 350-500 kcal/ngày (Spiegel et al 2004).

OSA ẢNH HƯỞNG ĐẾN CHUYỂN HÓA GLUCOSE

OSA làm thiếu hụt oxy gián đoạn trong cơ thể (hypoxia-giảm oxy huyết) và/hoặc việc giấc ngủ bị phân mảnh rời rạc vì vi thức giấc, dẫn đến căng thẳng sinh lý, làm ảnh hưởng đến chuyển hóa glucose và góp phần quan trọng vào tăng kháng insulin.

TRIỆU CHỨNG CỦA OSA

- Ngáy; Chán nản; Tăng huyết áp.

- Tăng cân; Ngủ ngày; Thiếu năng lượng.

ĐIỀU TRỊ OSA

Mặc dù có một số phương pháp điều trị OSA, bao gồm phẫu thuật và dụng cụ răng hàm, tiêu chuẩn vàng trong điều trị vẫn là áp lực đường thở dương liên tục (CPAP). Trong lĩnh vực điều trị không xâm lấn này, không khí trong phòng được nén bởi một thiết bị nhỏ, và nhẹ nhàng cung cấp khí qua mặt nạ gắn mũi (hoặc mặt nạ mũi và miệng). Áp suất không khí thông qua thiết bị giúp đường thở trở nên mở, giúp người sử dụng thiết bị có giấc ngủ trọn vẹn.

PGS TS BS NGUYỄN HOÀI NAM
Cố vấn Y khoa BV Quốc Tế Minh Anh

Tin tức khác?

KỶ NGUYÊN PHẪU THUẬT ÍT XÂM LẤN TRONG CHUYÊN NGÀNH TIM MẠCH - LỒNG NGỰC

KỶ NGUYÊN PHẪU THUẬT ÍT XÂM LẤN TRONG CHUYÊN NGÀNH TIM MẠCH - LỒNG NGỰC

Thành phố Đà Nẵng trong 3 ngày 31/5-2/6 vừa qua, đã đón tiếp hơn 200 đại biểu là...

BỆNH PHỔI TẮC NGHẼN MẠN TÍNH

BỆNH PHỔI TẮC NGHẼN MẠN TÍNH

Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD, COAD hay COLD) là một dạng bệnh lý tắc...

U TRUNG THẤT CÓ NGUY HIỂM KHÔNG ?

U TRUNG THẤT CÓ NGUY HIỂM KHÔNG ?

U trung thất là danh từ dùng để chỉ khối u có nguồn gốc và phát triển trong...

NHỮNG BỆNH LÝ LIÊN QUAN TUYẾN TIỀN LIỆT

NHỮNG BỆNH LÝ LIÊN QUAN TUYẾN TIỀN LIỆT

Phần lớn nam giới ở độ tuổi 50 hoặc cao hơn có bệnh lý liên quan đến tuyến tiền...

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây