LOẠI BỎ DÒNG TRÀO NGƯỢC TRONG BỆNH LÝ SUY TĨNH MẠCH

17/08/2021
Suy tĩnh mạch chi dưới là bệnh lý được đặc trưng bằng sự tổn thương của hệ thống van một chiều trong lòng tĩnh mạch dẫn đến hậu quả xuất hiện dòng máu trào ngược. Tổn thương có thể gặp riêng biệt hoặc phối hợp trên cả 3 hệ thống tĩnh mạch nông, sâu và xuyên.
LOẠI BỎ DÒNG TRÀO NGƯỢC TRONG BỆNH LÝ SUY TĨNH MẠCH

Suy tĩnh mạch chi dưới là bệnh lý được đặc trưng bằng sự tổn thương của hệ thống van một chiều trong lòng tĩnh mạch dẫn đến hậu quả xuất hiện dòng máu trào ngược. Tổn thương có thể gặp riêng biệt hoặc phối hợp trên cả 3 hệ thống tĩnh mạch nông, sâu và xuyên. Nếu không được điều trị kịp thời, bệnh tiến triển nặng dần và trải qua 2 giai đoạn:

- Giai đoạn còn bù: bệnh nhân có cảm giác tức, nặng và mỏi ở chi dưới khi đứng lâu, có thể xuất hiện phù nề nhẹ ở cẳng – bàn chân vào cuối ngày làm việc, nghỉ ngơi thì hết phù nề. Các tĩnh mạch nông ở chân giãn chưa nhiều, lúc giãn lúc không. Khi gần mất bù, các triệu chứng của thời kỳ còn bù phát triển nặng lên. Khi đi lại, xuất hiện cảm giác đau tức nhiều ở cẳng chân. Triệu chứng phù thường xuyên hơn, thường vẫn còn ngay cả khi bệnh nhân nghỉ ngơi. Các quai tĩnh mạch nông giãn to thường xuyên.

- Giai đoạn mất bù: bệnh nhân thường xuyên có cảm giác tê chân, ngứa da vùng tổn thương, đau nhiều ở chân khi đi bộ. Triệu chứng phù nề không mất đi khi nghỉ ngơi. Các tổn thương da do loạn dưỡng xuất như: viêm da, xơ cứng da, loét.

Đây là loại bệnh khá thường gặp ở các nước phát triển và ngày càng nhiều ở nước ta, Tại Việt Nam, theo nghiên cứu của giáo sư Văn Tần trên 24 quận huyện tại thành phố Hồ Chí Minh vào năm 2006, khoảng 40% người trên 50 tuổi bị suy tĩnh mạch chi dưới, với tỷ lệ nữ gấp bốn lần so với nam.

Tại Đức, mỗi năm, bệnh lý suy tĩnh mạch làm mất khoảng 2 triệu ngày làm việc và tiêu tốn 1,2 triệu ngày nằm viện. Chi phí cho điều trị bệnh lý suy tĩnh mạch hàng năm chiếm 2% tổng ngân sách y tế tại Anh và 2,6% tổng ngân sách y tế tại Pháp.

Mục tiêu điều trị trong bệnh lý suy tĩnh mạch chi dưới là loại bỏ dòng trào ngược và các biến chứng do dòng trào ngược gây ra. Việc điều trị kinh điển thường kết hợp giữa nội khoa và phẫu thuật. Khoảng vài thập kỷ trở lại đây, với sự phát triển của các phương pháp can thiệp nội mạch đã làm thay đổi một số quan điểm và mở ra một triển vọng mới trong điều trị.

Các phương pháp điều trị

>> LASER NỘI MẠCH, BƯỚC TIẾN MỚI TRONG ĐIỀU TRỊ DÃN TĨNH MẠCH CHÂN 

>> ĐIỀU TRỊ BỆNH SUY TĨNH MẠCH CHI DƯỚI BẰNG SÓNG CAO TẦN TẠI VIỆT NAM 

>> ỨNG DỤNG SÓNG SIÊU CAO TẦN TRONG ĐIỀU TRỊ SUY TĨNH MẠCH VÀ DÃN MAO MẠCH DẠNG LƯỚI

Bệnh suy tĩnh mạch được Hippocrates mô tả trong y văn vào khoảng năm 460 trước Công Nguyên. Hơn 2000 năm nay, trải qua nhiều thời kì, nhiều phương pháp điều trị được ghi nhận và phát triển. Nhìn chung, điều trị bệnh lý suy tĩnh mạch nhằm mục đích loại bỏ dòng trào ngược và khắc phục các biến chứng của dòng máu trào ngược. Việc điểu trị gồm cả nội khoa và ngoại khoa, luôn kết hợp và bổ sung cho nhau.

Nội khoa

Hướng dẫn về lối sống, tư thế và rèn luyện thể thao

Biện pháp này nhằm mục đích ngăn cản các dòng máu trào ngược và làm cải thiện lượng máu trở về tim. Biện pháp này bao gồm:

- Tư thế: gác chân cao khi nghỉ ngơi (chân cao hơn ngực)

- Đi bộ: cơ co bóp tạo ra sức ép máu tĩnh mạch đổ về

- Tránh ngồi lâu hay đứng lâu

- Tránh béo phì

- Thể thao: đi bộ, bơi lội, đạp xe đạp…

Băng ép: nhằm 2 mục đích:

- Phục hồi lại độ chênh áp suất giữa tuần hoàn của hệ tĩnh mạch nông và sâu thông qua các nhánh tĩnh mạch xuyên.

- Làm giảm đường kính của lòng mạch để làm tăng sức chịu đựng tĩnh mạch vào lúc nghỉ ngơi và trong suốt quá trình làm việc.

- Có thể sử dụng băng thun hoặc vớ tĩnh mạch với các áp lực khác nhau:

Ép nhẹ (class 1: 18-25 mmHg): phòng ngừa huyết khối tĩnh mạch sâu, suy tĩnh mạch triệu chứng nhẹ

Ép mức độ trung bình (class 2: 26-34mmHg): sau mổ hay chích xơ tĩnh mạch, viêm tắc tĩnh mạch, loét đã lành sẹo, phòng ngừa huyết khối tĩnh mạch sâu trên những bệnh nhân nguy cơ cao

Ép mức độ mạnh (class 3: 37-49mmHg): suy tĩnh mạch tiến triển nặng, phù nhiều nhưng có khả năng hồi phục.

Ép mức độ cực mạnh (class 4: > 50mmHg): phù bạch huyết, suy tĩnh mạch nặng, phù không thể hồi phục

Băng ép hay mang vớ tĩnh mạch khi đi đứng, làm việc, không mang khi nằm.

Thuốc điều trị

Các chất dược liệu hiện tại dùng để điều trị bệnh bao gồm những Flavonoids sinh học. Các trích xuất, các sản phẩm tổng hợp và pha trộn cũng được sử dụng.

Các chất này có tác dụng tăng cường sự trao đổi chất giữa máu và mô.

Các thuốc hướng tĩnh mạch thì làm tối ưu hóa trương lực thành tĩnh mạch. Hiệu quả của thuốc hướng tĩnh mạch sẽ không những làm tăng trương lực tĩnh mạch mà còn cải thiện được dẫn lưu bạch huyết và bảo vệ vi tuần hoàn của bệnh nhân. Các thuốc hiện nay đang sử dụng nhiều: Daflon 500mg, Ginko fort…

Kết luận

Suy tĩnh mạch chi dưới là một bệnh lý được phát hiện và mô tả từ rất lâu (460 trước Công Nguyên) với tổn thương đặc trưng là dòng máu trào ngược do sự suy yếu hoặc mất chức năng của các van trong lòng tĩnh mạch. Trải qua quá trình lịch sử lâu dài, nhiều phương pháp điều trị được áp dụng, đánh giá và chắt lọc.

Ngày nay, điều trị suy tĩnh mạch chi dưới là một sự kết hợp nhiều phương pháp nội – ngoại khoa từ thay đổi lối sống, uống thuốc, phẫu thuật và can thiệp nội mạch nhằm đem lại một kết quả tốt nhất cho người bệnh. Trong đó các phương pháp điều trị nội mạch như sử dụng Laser, sóng cao tần để làm xơ hóa tĩnh mạch và triệt tiêu dòng trào ngược của tĩnh mạch nông ngày càng chứng minh hiệu quả của nó cả về phương diện điều trị lẫn phương diện thẩm mỹ cho bệnh nhân.

ThS. BS. Nguyễn Văn Việt Thành
PCT Hội Tĩnh mạch học TP. Hồ Chí Minh; BS cộng tác điều trị tại BVQT Minh Anh

Tin tức khác?

KỶ NGUYÊN PHẪU THUẬT ÍT XÂM LẤN TRONG CHUYÊN NGÀNH TIM MẠCH - LỒNG NGỰC

KỶ NGUYÊN PHẪU THUẬT ÍT XÂM LẤN TRONG CHUYÊN NGÀNH TIM MẠCH - LỒNG NGỰC

Thành phố Đà Nẵng trong 3 ngày 31/5-2/6 vừa qua, đã đón tiếp hơn 200 đại biểu là...

BỆNH PHỔI TẮC NGHẼN MẠN TÍNH

BỆNH PHỔI TẮC NGHẼN MẠN TÍNH

Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD, COAD hay COLD) là một dạng bệnh lý tắc...

U TRUNG THẤT CÓ NGUY HIỂM KHÔNG ?

U TRUNG THẤT CÓ NGUY HIỂM KHÔNG ?

U trung thất là danh từ dùng để chỉ khối u có nguồn gốc và phát triển trong...

NHỮNG BỆNH LÝ LIÊN QUAN TUYẾN TIỀN LIỆT

NHỮNG BỆNH LÝ LIÊN QUAN TUYẾN TIỀN LIỆT

Phần lớn nam giới ở độ tuổi 50 hoặc cao hơn có bệnh lý liên quan đến tuyến tiền...

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây