HỘI CHỨNG LOẠN TRƯƠNG LỰC

17/08/2021
Hội chứng loạn trương lực (viết tắt là LTL) là một thể rối loạn vận động do nguyên nhân thần kinh, biểu hiện bằng tình trạng co cơ gần như liên tục hoặc bằng các động tác lặp đi lặp lại ngoài ý muốn và dẫn đến các kiểu xoắn vặn hay các tư thế và dáng bộ bất thường của một vùng hay nhiều vùng khác nhau của cơ thể.
HỘI CHỨNG LOẠN TRƯƠNG LỰC
  • Hội chứng loạn trương lực (viết tắt là LTL) là một thể rối loạn vận động do nguyên nhân thần kinh, biểu hiện bằng tình trạng co cơ gần như liên tục hoặc bằng các động tác lặp đi lặp lại ngoài ý muốn và dẫn đến các kiểu xoắn vặn hay các tư thế và dáng bộ bất thường của một vùng hay nhiều vùng khác nhau của cơ thể.

    Nguyên nhân

    LTL nguyên phát gây ra bởi bệnh của hệ thần kinh trung ương khởi phát từ các hạch nền, (các nhân xám trong não).

    LTL thứ phát xảy ra do một số các nguyên nhân được xác định như: các yếu tố liên quan đến sinh đẻ, tác dụng phụ của thuốc nhất là thuốc an thần, nhiễm độc, di chứng bại não, di chứng viêm não hay viêm màng não, di chứng chấn thương sọ não, đột quỵ, bệnh thần kinh (bệnh Wilson, bệnh Segawa…). Loạn trương lực có thể do các bệnh lý di truyền. Trường hợp không tìm thấy nguyên nhân được gọi là LTL vô căn.

    LTL thường dễ bị chẩn đoán nhầm hoặc không được nhận biết do biểu hiện lâm sáng rất đa dạng.

    Ảnh minh họa

    Cơ chế gây bệnh

    Cơ chế chính: viêm các mạch máu gây ra hạn chế dòng máu đi tới các hạch nền.

    Ngoài ra có các cơ chế khác như: tổn thương trực tiếp dây thần kinh do nhiễm khuẩn (vi khuẩn, siêu vi, nấm), nhiễm độc tố, hoặc do cơ chế tự miễn.

    Phân loại loạn trương lực

    Có rất nhiều các loại LTL cũng như có nhiều bệnh và nhiều nguyên nhân có thể gây ra LTL.

    LTL được phân loại căn cứ theo: 1. Các đặc điểm lâm sàng như tuổi phát bệnh, vùng cơ thể bị, bản chất các triệu chứng, và các đặc điểm phối hợp, và 2. Nguyên nhân (bao gồm các thay đổi hoặc tổn thương của hệ thần kinh và tính di truyền). Các thầy thuốc sử dụng cách phân loại này để hướng dẫn cho chẩn đoán và điều trị.

    Các loại LTL căn cứ trên các vùng cơ thể bị ảnh hưởng vao gồm:

    LTL toàn thể ảnh hưởng đến đa số các vùng hay toàn bộ cơ thể.

    LTL khu trú hay cục bộ giới hạn ở một vùng của cơ thể:

    - Co thắt mi mắt: co cơ vùng mắt làm hai mắt thường xuyên nhắm lại, khó mở.

    - LTL hàm-miệng: co cơ vùng hàm-miệng gây cử động bất thường vùng này.

    - LTL cổ: co cơ vùng cổ tạo tư thế cổ bất thương như vẹo cổ, gập hay ngửa cổ…

    - LTL bàn tay viết: viết khó khăn dù rằng các động tác khác của t5ay có thể bình thường.

    - LTL phát âm: phát âm khó khăn, ngắt quãng dù rằng khám tai mũi họng bình thường.

    LTL nhiều vùng ảnh hưởng tới ≥ 2 vùng xa nhau và không liên quan với nhau của cơ thể.

    LTL từng đoạn ảnh hưởng tới ≥ 2 vùng kế tiếp nhau của cơ thể.

    LTL nửa người ảnh hưởng đến một tay và một chân cùng bên của cơ thể, thí dụ gặp sau đột quỵ.

    Các yếu tố nào ảnh hưởng lên tình trạng LTL?

    LTL thường nặng lên hoặc thuyên giảm do một số các yếu tố sau:

    LTL có thể chỉ xuất hiện khi người bệnh có những cử động đặc thù, ví dụ: khi viết gây ra LTL khu trú ở bàn tay người viết.

    LTL có thể xuất hiện khi người bệnh có những cử động không đặc hiệu, ví dụ: khi đi thấy rõ LTL ở cổ…

    LTL có thể tăng khi mệt mỏi, lo lắng, stress…, giảm khi nghỉ ngơi, ngủ hoặc khi sờ vào vùng cơ bị ảnh hưởng.

    Chẩn đoán LTL như thế nào?

    Chẩn đoán LTL dựa vào:

    1. Hỏi bệnh sử, tiền sử bản thân, gia đình.

    2. Khám thần kinh và khám tổng quát.

    3. Đánh giá tính chất của LTL, bao gồm:

    - Tuổi khởi phát triệu chứng

    - Phân bố vùng cơ thể ảnh hưởng

    - Tiến triển của bệnh

    - Yếu tố ảnh hưởng lên tình trạng LTL

    4. Tùy trường hợp phải cần đến hình ảnh học (đặc biệt là chụp hình cộng hưởng từ não bộ - MRI), điện cơ, điện não, xét nghiệm gen và các xét nghiệm máu khác…

    Điều trị LTL như thế nào?

    Cho đến nay, chưa có phương pháp điều trị chữa khỏi chứng LTL.

    Bước đầu tiên để điều trị thành công LTL là phải xác định được nguyên nhân của LTL. Nếu tìm được nguyên nhân gây ra LTL, điều trị nguyên nhân sẽ giúp giảm triệu chứng bệnh. Ví dụ: hội chứng Segawa* đáp ứng rất tốt với Levodopa, bệnh Wilson** điều trị tốt sẽ cải thiện LTL do bệnh này gây ra.

    Ngoài việc điều trị nguyên nhân, điều trị triệu chứng LTL sẽ hỗ trợ cải thiện tình trạng bệnh nhân, làm thuyên giảm sự tàn phế và tăng cường chất lượng sống của người bệnh (kể cả LTL vô căn hoặc có nguyên nhân).

    Có ba phương pháp chính điều trị LTL gồm: thuốc uống, tiêm botulinum toxin vào cơ bị LTL, và phẫu thuật.

    1. Thuốc uống: một số thuốc uống có thể có hiệu quả ở bệnh nhân LTL như: Trihexyphenidyl, Levodopa, thuốc đồng vận Dopamine, Baclofen, Clonazepam… Tuy nhiên hiệu quả thường thấp và tùy theo từng bệnh nhân cụ thể. Các thuốc này thường có tác dụng phụ nên khi điều trị cần có sự theo dõi kỹ của các Bác sĩ.

    2. Botulinum toxin: botulinum toxin là độc tố của vi trùng Clostridium botulinum và có tác dụng gây liệt cơ. Botulinum toxin đã được áp dụng lần đầu tiên tại Mỹ trong cuối thập niên 80 của thế kỷ XX để điều trị một số bệnh của cơ mắt và từ đó đến nay đã ngày càng được ứng dụng mở rộng cho nhiều loại bệnh LTL khác nhau. Các nghiên cứu ứng dụn botulinum toxin trong điều trị LTL đã cho thấy là nhóm thuốc này là có hiệu quả hơn hẳn các thuốc uống đã được dùng xưa nay cho nhóm bệnh này. Hơn thế nữa, botulinum toxin cũng là phương tiện điều trị an toàn một khi được thực hiện bởi các Bác sĩ chuyên khoa về rối loạn vận động. Botulinum toxin A là loại thuốc điều trị thông dụng trên Thế giới và ở Việt Nam và có tên biệt dược được biết rộng rãi là Dysport, Botox và Xeomin. Botulinum toxin B có tên biệt dược là Myobloc và Neuroloc.

    3. Phẫu thuật: Phẫu thuật hiện nay được chỉ định cho nhữn trường hợp nặng không đáp ứng với điều trị thuốc. Các loại phẫu thuật có liên quan gồm cắt cơ bị ảnh hưởng, cắt dây thần kinh, phẫu thuật đốt nhân não hoặc kích thích não sâu. Hiện nay, phương pháp phẫu thuật kích thích não sâu đã được ứng dụng thành công ở Việt Nam trong điều trị một số trường hợp LTL toàn thể không đáp ứng với thuốc.

    Tập vật lý trị liệu và phục hồi chức năngcũng có hiệu quả một phần, đặc biệt khi phối hợp với 3 phương pháp điều trị đã nêu ở trên.

    Kết cục bệnh nhân LTL như thế nào?

    LTL không trực tiếp gây tử vong, tuy nhiên đây là một nhóm bệnh mãn tính, có thể gây tàn phế, và ảnh hưởng tiêu cự rất nặng đến chất lượng sống của người bệnh.

    BVQT Minh Anh

Tin tức khác?

KỶ NGUYÊN PHẪU THUẬT ÍT XÂM LẤN TRONG CHUYÊN NGÀNH TIM MẠCH - LỒNG NGỰC

KỶ NGUYÊN PHẪU THUẬT ÍT XÂM LẤN TRONG CHUYÊN NGÀNH TIM MẠCH - LỒNG NGỰC

Thành phố Đà Nẵng trong 3 ngày 31/5-2/6 vừa qua, đã đón tiếp hơn 200 đại biểu là...

BỆNH PHỔI TẮC NGHẼN MẠN TÍNH

BỆNH PHỔI TẮC NGHẼN MẠN TÍNH

Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD, COAD hay COLD) là một dạng bệnh lý tắc...

U TRUNG THẤT CÓ NGUY HIỂM KHÔNG ?

U TRUNG THẤT CÓ NGUY HIỂM KHÔNG ?

U trung thất là danh từ dùng để chỉ khối u có nguồn gốc và phát triển trong...

NHỮNG BỆNH LÝ LIÊN QUAN TUYẾN TIỀN LIỆT

NHỮNG BỆNH LÝ LIÊN QUAN TUYẾN TIỀN LIỆT

Phần lớn nam giới ở độ tuổi 50 hoặc cao hơn có bệnh lý liên quan đến tuyến tiền...

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây