CHẨN ĐOÁN VÀ ĐIỀU TRỊ TRĨ

17/08/2021
Bệnh trĩ là sự dãn quá mức của đám rối tĩnh mạch trĩ dưới dạng xoang hang ở hậu môn. Trĩ có thể phát sinh do rặn khi đi cầu hay do tăng áp lực ở các tĩnh mạch này vì một số nguyên nhân như thai nghén, tuổi, di truyền, cơ vòng hậu môn nhão, chế độ ăn, nghề nghiệp, táo bón.
CHẨN ĐOÁN VÀ ĐIỀU TRỊ TRĨ
  • >> Thành lập phòng khám Hậu môn - Trực tràng

    Bệnh Trĩ là gì

    Bệnh trĩ là sự dãn quá mức của đám rối tĩnh mạch trĩ dưới dạng xoang hang ở hậu môn. Trĩ có thể phát sinh do rặn khi đi cầu hay do tăng áp lực ở các tĩnh mạch này vì một số nguyên nhân như thai nghén, tuổi, di truyền, cơ vòng hậu môn nhão, chế độ ăn, nghề nghiệp, táo bón. Trĩ có thể nằm trong ống hậu môn, dưới niêm mạc, phí trên đường lược (trĩ nội), hoặc nằm dưới da xung quanh lỗ hậu môn (trĩ ngoại) hoặc khi các dây chằng vùng hậu môn bị thoái hóa và nhão ra, các búi trĩ nội hợp nhất với các búi trĩ ngoại tạo thành trĩ hỗn hợp. Các búi trĩ hỗn hợp này to dần lên và liên kết với nhau thành một vòng gọi là trĩ vòng.

    Bệnh trĩ khá thường gặp. Ở tuổi 50, khoảng một nửa số người lớn bị ngứa ngáy khó chịu hay chảy máu mà có thể là biểu hiện của trĩ. May mắn là số đông có thể điều trị tại nhà với thay đổi các sinh hoạt thường nhật.

    Phân độ Trĩ nội

    Trĩ nội được phân thành 4 độ:

    Độ I: các búi trĩ to ra và sung huyết, nằm phía trên đường lược và không tụt xuống khi rặn, thường có kèm chảy máu khi đi cầu.

    Độ II: các búi trĩ tụt xuống dưới đường lược khi rặn và có thể thập thò ở lỗ hậu môn, tự tụt lên trong ống hậu môn khi ngừng rặn.

    Độ III: các búi trĩ sa ra ngoài ống hậu môn khi rặn hoặc khi đi cầu (hoặc khi đi lại nhiều, khi ngồi xổm, khi làm việc nặng). Phải nằm nghỉ hồi lâu búi trĩ mới tụt vào được hoặc dùng tay đẩy vào lại ống hậu môn.

    Độ IV: các búi trĩ không thể tự tụt lên được và vẫn sa thường xuyên khi rặn hay đi cầu.

    Hình minh họa

    Nguyên nhân của bệnh Trĩ

    - Đứng lâu, ngồi nhiều, ít đi lại.

    - Táo bón kéo dài.

    - Hội chứng lỵ.

    - Hội chứng ruột kích thích.

    - Thói quen ngồi lâu trong nhà vệ sinh.

    - Thai nghén và sinh nở.

    - Tuổi lớn làm chùng các dây chằng vùng hậu môn.

    - Hai lý thuyết mới về sinh bệnh học của trĩ: vai trò của tăng sinh mạch máu và sự trượt của niêm mạc ống hậu môn.

    - Các trường hợp được gọi là trĩ triệu chứng: hội chứng tăng áp lực của tĩnh mạch cửa, u bướu hậu môn-trực tràng, u bướu của chậu hông… cản trở đường về của máu tĩnh mạch làm căng phồng các đám rối trĩ.

    Triệu chứng bệnh Trĩ

    Chảy máu: chảy máu khi đại tiện và rặn. Máu  màu đỏ tươi dính phân hoặc chảy nhỏ giọt hay phun thành tia hoặc thấm ra giấy vệ sinh.

    Có cảm giác như có một cục ở hậu môn, ngứa ngáy khó chịu ở hậu môn.

    Búi trĩ: nhìn thấy các búi trĩ ngoại hay các búi trĩ nội sa ra ngoài hậu môn. Trĩ nội khi chưa sa ra ngoài thì phải soi ống hậu môn để chẩn đoán.

    Đau: thường không đau, trừ trường hợp trĩ sa bị kẹt. Đau khi ngồi ngựa hay khi ngồi hai mông trong trường hợp trĩ sa.

    Chẩn đoán bệnh Trĩ

    Để chẩn đoán chính xác bệnh trĩ cần phải có 2 phương tiện chẩn đoán hình ảnh:

    Quay phim hậu môn khi đại tiện

    Nội soi trực tràng

    Điều trị bệnh Trĩ

    Nguyên tắc: (1) Không điều trị trĩ triệu chứng trừ khi có biến chứng; (2) Chỉ điều trị trĩ khi Bệnh nhân có những rối loạn ảnh hưởng tới cuộc sống, lao động và sức khỏe. Tùy theo thương tổn cụ thể của trĩ mà chọn lựa phương pháp điều trị thích hợp:

    Điều trị nội khoa chỉ định cho trĩ độ I và trĩ độ II. Bao gồm: chế độ ăn nhiều chất xơ (rau quả, ngũ cốc), các chất làm mềm phân và tránh rặn khi tống phân giúp hạn chế sa trĩ. Ngâm hậu môn trong nước ấm làm giảm nhẹ các triệu chứng của trĩ, ngâm ngày 2-3 lần, mỗi lần 10 phút. Dùng các thuốc đặt hậu môn (Preparation-H), Proctolog…), các thuốc chống táo bón, các thuốc tăng cường thành tĩnh mạch (Daflon, Ginkor fort…).

    Điều trị thủ thuật:

    Thắt vòng cao su là phương pháp được đánh giá hiệu quả nhất cho trĩ độ II và độ III, kể cả trĩ chảy máu và trĩ sa. Không dùng cho trĩ ngoại. Được áp dụng nhiều nhất, thay cho mổ cắt trĩ ở 80% Bệnh nhân. Lần đầu chỉ nên thắt 1-2 búi, các kỳ sau cách nhau 3-4 tuần. Sau thắt, dùng các thuốc làm mềm phân và các thuốc làm tăng khối lượng phân. Chích xơ chỉ nên dùng chi trĩ độ I và độ II, có thể dùng cho Bệnh nhân suy giảm miễn dịch hoặc mắc các bệnh rối loạn đông máu. Không dùng cho: trĩ ngoại, trĩ bị huyết khối, trĩ bị viêm hoặc loét hoặc bị hoại thư. Chích xơ làm tắc và teo nhỏ các búi trĩ. Hóa chất sử dụng: phenol trong dầu thực vật, quinine và urea hydrochloride, sodium morrhuate, sodium tetradecyl slfate, polidocanol. Quang đông hồng ngoại chỉ định cho các búi trĩ nhỏ, độ I và độ II. Chiếu 1,5 giây, đưa nhiệt độ của mô lên 1000C, làm đông protein 3mm chiều sâu.

    Điều trị phẫu thuật: 

    Có nhiều phương pháp phẫu thuật được áp dụng như cắt trĩ từng búi (Milligan-Morgan, Toupet, Ferguson), cắt một khoanh da - niêm mạc (Whitehead), phẫu thuật treo trĩ Longo, khâu triệt mạch trĩ dưới hướng dẫn siêu âm…

    Cắt trĩ có chỉ định khi kèm trĩ ngoại, loét hay hoại thư, huyết khối lan rộng, kèm nứt hậu môn, thắt bằng vòng cao su thất bại. Cắt trĩ gây đau nhiều sau mổ, nhiều Bệnh nhân sợ. Điều trị đau bằng cá thuốc giảm đau và các kháng viêm không steroid, các thuốc làm mềm phân và chất xơ.

    Có nhiều phương pháp mổ cắt trĩ:

    Cắt trĩ và khâu lại niêm mạc (phẫu thật Ferguson).

    Cắt trĩ mở, phương pháp Miligan-Morgan. Khi vết mổ không thể khâu kín, hoặc khi có hoại thư hay trĩ vòng. Cắt tận gốc để lại các cầu da-niêm, cầm máu bằng dao điện, để hở vết mổ niêm mạc-da. Tránh được các biến chứng của phẫu thuật Whitehead. Khó khăn trong trường hợp trĩ vòng, khí đó lấy trĩ dưới các cầu da-niêm.

    Một ca phẫu thuật phục hồi cơ vòng và tái tạo tầng sinh môn tổn thương do trĩ rất nặng tại BVQT Minh Anh...

    Cắt trĩ không khâu. Dùng cho trĩ độ III và độ IV, cũng như đi kèm da thừa hậu môn. Ít biến chứng hơn và khỏi bệnh nhanh hơn so với phương pháp kín.

    Phẫu thuật Whitehead (tác giả người Anh, đề xướng năm 1882). Chỉ định cho trĩ vòng. Kỹ thuật: cắt bỏ một khoanh da-niêm (đường trên ở niêm mạc, đường dưới ở da) cùng các búi trĩ hỗn hợp và khâu lại. Biến chứng: hẹp hậu môn, són phân, rỉ dịch.

    Phẫu thuật mổ treo trĩ dùng máy cắt-khâu. Là phương pháp dùng cho trĩ sa (PPH), do Longo người Ý đề xướng năm 1998.

    Cơ sở của phẫu thuật Longo: làm gián đoạn các mạch trĩ trên và giữa, niêm mạc trực tràng-hậu môn bị sa được kéo lên cao và đưa các búi trĩ sa về lại trong ống hậu môn làm cho mô trĩ teo lại. Chỉ định cho trĩ nội độ III và IV. Khó thực hiện cho trĩ hỗn hợp hay khi nhiều da thừa.

    ... và niềm vui của gia đình người bệnh

    Phẫu thuật Longo đang được áp dụng trong điều trị bệnh trĩ rất có hiệu quả tại Bệnh viện Quốc Tế Minh Anh

    PK Bác sĩ Hoài Nam tổng hợp

Tin tức khác?

KỶ NGUYÊN PHẪU THUẬT ÍT XÂM LẤN TRONG CHUYÊN NGÀNH TIM MẠCH - LỒNG NGỰC

KỶ NGUYÊN PHẪU THUẬT ÍT XÂM LẤN TRONG CHUYÊN NGÀNH TIM MẠCH - LỒNG NGỰC

Thành phố Đà Nẵng trong 3 ngày 31/5-2/6 vừa qua, đã đón tiếp hơn 200 đại biểu là...

BỆNH PHỔI TẮC NGHẼN MẠN TÍNH

BỆNH PHỔI TẮC NGHẼN MẠN TÍNH

Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD, COAD hay COLD) là một dạng bệnh lý tắc...

U TRUNG THẤT CÓ NGUY HIỂM KHÔNG ?

U TRUNG THẤT CÓ NGUY HIỂM KHÔNG ?

U trung thất là danh từ dùng để chỉ khối u có nguồn gốc và phát triển trong...

NHỮNG BỆNH LÝ LIÊN QUAN TUYẾN TIỀN LIỆT

NHỮNG BỆNH LÝ LIÊN QUAN TUYẾN TIỀN LIỆT

Phần lớn nam giới ở độ tuổi 50 hoặc cao hơn có bệnh lý liên quan đến tuyến tiền...

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây