BỆNH TIM MẠCH VÀ RỐI LOẠN THỞ KHI NGỦ

17/08/2021
Rối loạn ngưng thở khi ngủ (Sleep Disorder Breathing – SDB) là vấn đề sức khỏe nghiêm trọng ảnh hưởng đến hệ tim mạch theo nhiều cách. Giữa SDB và bệnh tim mạch (Cardiovascular Disease – CVD) có liên quan với nhau. SDB được xác định là nguyên nhân của tăng huyết áp, suy tim sung huyết (Congestive Heart Failure – CHF), đột qụy và bệnh động mạch vành (Coronary Artery Disease – CAD). Thêm vào đó, những nghiên cứu gần đây cho thấy điều trị SDB có thể làm giảm huyết áp và cải thiện chức năng tim mạch.
 BỆNH TIM MẠCH VÀ RỐI LOẠN THỞ KHI NGỦ

Rối loạn ngưng thở khi ngủ (Sleep Disorder Breathing – SDB) là vấn đề sức khỏe nghiêm trọng ảnh hưởng đến hệ tim mạch theo nhiều cách. Giữa SDB và bệnh tim mạch (Cardiovascular Disease – CVD) có liên quan với nhau. SDB được xác định là nguyên nhân của tăng huyết áp, suy tim sung huyết (Congestive Heart Failure – CHF), đột qụy và bệnh động mạch vành (Coronary Artery Disease – CAD). Thêm vào đó, những nghiên cứu gần đây cho thấy điều trị SDB có thể làm giảm huyết áp và cải thiện chức năng tim mạch.

RỐI LOẠN THỞ KHI NGỦ LÀ GÌ?

Rối loạn thở khi ngủ (SDB) là những rối loạn liên quan đến hệ hô hấp khi ngủ, bao gồm ngưng thở tắc nghẽn (Obstructive Sleep Apnea – OSA), ngưng thở trung ương (Central Sleep Apnea – CSA) và những dạng ngưng thở khác. Ngưng thở được định nghĩa là khi không có luồng hơi thở trong ít nhất 10 giây. Dạng rối loạn thở khi ngủ phổ biến nhất là ngưng thở tắc nghẽn.

Trong ngưng thở tắc nghẽn khi ngủ, đường thở trên xẹp lại làm tắc nghẽn một phần hoặc hoàn toàn đường thở khi ngủ đồng thời có hô hấp gắng sức. Giảm thở (giảm không khí) tương tự như ngưng thở, nhưng thay vì hoàn toàn không có luồng hơi thở, trong giảm thở thì luồng hơi thở bị giảm (thở chậm, thở nông) trong vòng 10 giây hoặc hơn, kèm theo hiện tượng giảm bão hòa oxy ít nhất 4%.

Ngưng thở trung ương là khi không có luồng hơi thở và cũng không có hô hấp gắng sức. Khi vừa có ngưng thở tắc nghẽn, vừa có ngưng thở trung ương thì thường được gọi là ngưng thở hỗn hợp.

Một dạng tối loạn thở đặc biệt phổ biến ở bệnh nhân tim mạch là nhịp thở Cheyne – Stokes (Cheyne-Stokes respiration – CSR). Đặc điểm của nhịp thở này là ngưng thở trung ương hoặc giảm thở, sau đó là nhịp thở sâu và nhanh, luân phiên nhau theo chu kỳ. CSR dẫn đến giảm bão hòa oxy, tăng hoạt động thần kinh giao cảm, loạn nhịp tim.

Triệu chứng và hiện tượng OS

- Ngáy

- Thở gián đoạn khi ngủ

- Buồn ngủ vào ban ngày

- Nhức đầu vào buổi sáng

- Tăng huyết áp

NGƯNG THỞ TẮC NGHẼN KHI NGỦ VÀ BỆNH TIM MẠCH

Ngưng thở và giảm thở dẫn đến giảm bảo hòa oxy và tăng carbon dioxide trong máu. Khi lượng carbon dioxide trong máu tăng đến một mức nhất định, cơ thể sẽ cố gắng tìm cách để thở, gây nên hiện tượng vi thức giấc và thở bình thường trở lại. Trong khi ngưng thở, hệ thần kinh giao cảm gia tăng, dẫn đến loạn nhịp tim và làm tăng huyết áp. Ngưng thở được xem là nguyên nhân làm tăng huyết áp, liên quan đến suy tim sung huyết (CHF), bệnh động mạch vành (CAD) và rung nhĩ (Atrial Fibrillation – AF). Hậu quả huyết động lực học của OSA bao gồm tăng huyết áp, tăng áp động mạch phổi.

SDB và tăng huyết áp

- 80% bệnh nhân tăng huyết áp kháng trị bị rối loạn thở khi ngủ

- SDB gây ra áp lực tim mạch kéo dài, dẫn đến tăng huyết áp suốt ngày và đêm.

- Người có OSA từ nhẹ đến trung bình có nguy cơ tăng huyết áp cao gấp đôi, người có OSA nặng thì nguy cơ tăng huyết áp cao gấp 3 người không bị OSA.

- Điều trị hiệu quả SDB đã được chứng minh làm giảm huyết áp rõ rệt trong lúc ngủ cũng như khi thức giấc.

SDB và suy tim sung huyết (CHF)

- 73% bệnh nhân suy tim sung huyết có rối loạn thở khi ngủ.

- SDB phổ biến ở bệnh nhân suy tim vừa và nặng, làm bệnh tim mạch tiến triển, ảnh hưởng xấu đến kết quả điều trị và cả làm tăng tỉ lệ tử vong.

- Các nghiên cứu đã chứng minh điều  trị SDB hiệu quả sẽ giúp cải thiện chức năng tim (phân suất tống máu thất trái, LVEF-left ventricular ejection fraction) và làm phì đại tim ( kích thước cuối tâm thu thất trái, LVSED-left ventricular end-systolic dimension).

SDB và bệnh động mạch vành (CAD)

Khoảng 30% bệnh nhân động mạch vành bị rối loạn thở khi ngủ.

- Điều trị ngưng thở tắc nghẽn ở bệnh nhân động mạch vành giúp làm giảm xảy ra các biến cố tim mạch mới (ví dụ tử vong, nhập viện, tái thông mạch), và làm tăng khoảng thời gian giữa các biến cố đó.

SDB và rung nhĩ (AF)

- Ngưng thở tắc nghẽn ảnh hưởng đến khoảng 50% bệnh nhân rung nhĩ.

- Bệnh nhân rung nhĩ được điều trị CPAP hiệu quả sẽ có nguy cơ rung nhĩ tái phát thấp hơn bệnh nhân không được điều trị OSA.

KẾT LUẬN

Bệnh lý tim mạch thường là những bệnh lý mãn tính, gây tàn phế và có nguy cơ tử vong cao, việc điều trị dựa trên việc kiểm soát các yếu tố nguy cơ. Rối loạn thở khi ngủ thường kết hợp với các chứng bệnh tim mạch, từ tăng huyết áp đến suy tim, và Bác sĩ ngày càng chú ý đến điều trị rối loạn thở khi ngủ.

Việc điều trị hiệu quả và kịp thời sẽ giúp ngăn ngừa bệnh tim mạch cũng như giảm được biến chứng tim mạch. Việc tầm soát rối loạn thở khi ngủ ở bệnh nhân tim mạch cần được quan tâm và thực hiện rộng rãi.

PGS TS BS NGUYỄN HOÀI NAM
Cố vấn Y khoa BV Quốc Tế Minh Anh

Tin tức khác?

KỶ NGUYÊN PHẪU THUẬT ÍT XÂM LẤN TRONG CHUYÊN NGÀNH TIM MẠCH - LỒNG NGỰC

KỶ NGUYÊN PHẪU THUẬT ÍT XÂM LẤN TRONG CHUYÊN NGÀNH TIM MẠCH - LỒNG NGỰC

Thành phố Đà Nẵng trong 3 ngày 31/5-2/6 vừa qua, đã đón tiếp hơn 200 đại biểu là...

BỆNH PHỔI TẮC NGHẼN MẠN TÍNH

BỆNH PHỔI TẮC NGHẼN MẠN TÍNH

Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD, COAD hay COLD) là một dạng bệnh lý tắc...

U TRUNG THẤT CÓ NGUY HIỂM KHÔNG ?

U TRUNG THẤT CÓ NGUY HIỂM KHÔNG ?

U trung thất là danh từ dùng để chỉ khối u có nguồn gốc và phát triển trong...

NHỮNG BỆNH LÝ LIÊN QUAN TUYẾN TIỀN LIỆT

NHỮNG BỆNH LÝ LIÊN QUAN TUYẾN TIỀN LIỆT

Phần lớn nam giới ở độ tuổi 50 hoặc cao hơn có bệnh lý liên quan đến tuyến tiền...

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây